NHỮNG NHÀ PHÚ HỘ VÀ NGƯỜI LỪNG DANH Ở
NAM Kỳ
Hứa Hoành
Phần 1 - Vùng
Tiền Giang
Hồi năm 1918, nhà văn Phạm
Quỳnh có vào thăm Nam Kỳ. Ông viết bài “Một tháng
ở Nam Kỳ” đăng liên tục nhiều kỳ trên
báo Nam Phong. Tuy có thái độ tự tôn, nhưng nhà văn
Phạm Quỳnh cũng ngạc nhiên thấy mức
sống của các ông cai tổng, điền chủ,
hội đồng trong Nam quá cao, quá sung túc hơn những
ông tổng đốc, tuần phủ, án sát ngoài Bắc.
Các điền chủ lớn trong Nam là những ông vua nho
nhỏ tại địa phương. Điền chủ
có vài ngàn mẫu ruộng như một ấp riêng, có
chợ riêng, hàng chục ngôi nhà nền đúc, có máy
điện, máy lạnh, xe du lịch, ca-nô và tôi tớ hàng
chục người phục dịch trong gia đ́nh. Trong
khi đó, nông dân, tá điền, những người góp
phần làm cho họ giàu có chỉ có mỗi căn cḥi lá
ọp ẹp và chiếc xuồng ba lá... Chúng tôi không có thành
kiến như Cộng Sản “Hễ nhà giàu th́ bóc lột,
là ác ôn, là trọc phú bất nhơn.” Giới nào cũng có
người tốt kẻ xấu. Nhiều điền
chủ có vài ba trăm công ruộng, đối đăi thân
mật với tá điền như anh em, chỉ những
người quá giàu thỉnh thoảng mới có
người khắc khe.
Thói thường “phú quư th́ bất nhơn,
c̣n bần cùng sanh đạo tặc gian trá.” Tá điền,
nông dân làm mướn đáng thương mà các điền
chủ cũng có khi không đáng trách. Lỗi ấy tại
chế độ thực dân dung dưỡng. Thực dân
muốn cho một số ít người thật giàu
để họ trung thành và áp bức kẻ nghèo thay
họ, giúp họ một cánh tay đắc lực trong
việc nội trị. Bấy giờ, dưới chế
độ cộng sản, người nông dân Việt nam
c̣n nghèo khổ hơn v́ nhà nước độc quyền
mua sản phẩm, độc quyền bán phân bón, thuốc
trừ sâu c̣n lại thu thuế rất cao. Nếu giàu quá
ắt không khỏi mang tiếng bóc lột, mà con cháu sẵn
của, ăn không ngồi rồi, sinh lắm thói hư tật
xấu, cũng là một khía cạnh khác của xă hội
đương thời.
Các đại điền chủ ở Nam
Kỳ hồi trước đều có hàng chục lẫm
lúa. Mỗi lẫm là một dăy nhà liên kế, rộng 4, 5m,
bề dài từ vài chục đến hàng trăm mét.
Nhiều gia đ́nh giàu quá, không biết xài cách nào cho hết
tiền, nên con cái phung phí cũng là chuyện dĩ nhiên.
Hễ cha kiếm tiền dễ th́ con phải xài phá. Đó
là định luật. Ít khi, nhưng vẫn có những
người giàu biết nhân nghĩa, làm việc thiện.
Hội đồng Đoàn
Hữu Nhơn ở Bến Tre tặng nguyên một ghe
chài lúa cho làng để cất trường học. Bà Huyện Xây ở Vũng
Liêm, cứ mỗi ngày rằm lớn thường làm chay,
phát chẩn, dựng rạp trước nhà để
đăi người nghèo, hành khất... Không phải hễ
phú quư th́ tàn ác mà nghèo khổ là đạo đức,
đáng thương hại tất cả.
Trung thành với chủ trương từ
trước tới nay, chúng tôi không phê phán công việc làm
ăn của họ mà chỉ liệt kê, t́m hiểu.
Một nguồn gốc của sự giàu sang phú quư khác,
được cắt nghĩa bằng thuyết phong
thủy. Tuy mơ hồ, nhưng hồi trước ai
cũng tin vào thuyết này. Con người sống nhờ
đất. Đất tạo ra của cải nuôi sống
loài người. Con người không thể tồn tại
nếu thiếu đất. Lịch sử Đông Tây kim
cổ chứng minh rằng vấn đề ruộng
đất là nguồn gốc mọi sự bất hoà trong
mỗi gia đ́nh, sự xích mích giữa ḍng họ, sự
tranh chấp trong làng xóm, láng giềng và là nguyên nhân của
các cuộc chiến tranh. Nói cho cùng, nguyên nhân gây ra hai
cuộc thế chiến hồi đầu thế kỷ 20
này cũng chỉ là cuộc tranh chấp đất đai
mà ra. Đất nào sinh ra người nấy. Thuyết
phong thủy giải thích tại sao có “địa linh sinh
nhân kiệt? Theo quan niệm cổ, ông bà ta cho rằng
cuộc đất linh thiêng do núi sông un đúc, đă
sản sinh những anh hùng, hào kiệt. Đó là thế
đất kết tụ khí thiêng sông núi, đồng
bằng như một sự kết hợp hài hoà, mà
những người am hiểu địa lư không thể
biết được?
Ngày nay, khoa học chưa t́m ra mối
lương quan ấy. Tuy vậy các nhà doanh nghiệp,
nhứt là ở Á Châu, mỗi khi t́m cơ sở thiết
lập hăng xưởng, nơi mở văn pḥng, luôn luôn
nhờ thầy địa lư t́m thế đất
vượng phát. Cũng có khi gặp thế đất
xấu, nhưng do nhu cầu làm ăn, họ phải
“cải tạo bằng cách trấn yểm. Quan niệm
về địa lư phong thủy c̣n giải nghĩa tại
sao có những người hồi hàn vi lao đao khổ
sở, không có cục đất chọi chim, mà chỉ trong
một thời gian ngắn trở nên giàu có, trở thành
những thế gia vọng tộc, ḍng họ nhiều
đ̣i hưởng phú quư. Trái lại, có những
người đang giàu có, hưởng phú quư vinh hoa, làm
ăn phát dạt, phút chốc sụp đổ, trở
thành trắng tay.
Viết được loạt bài này tôi
mắc nợ ơn nghĩa nhiều người. Trong
số đó có nhà văn và bạn đồng hương
cũ Hồ Trường An, giúp chúng tôi rất nhiều tài
liệu để bài viết được sống
động, phong phú. Tôi xin chân thành cám ơn nhà văn
Hồ Trường An.
Những phú hộ
và nhân vật lừng danh ở G̣ Công
Trong bộ Nam Kỳ lục tỉnh, chúng
tôi có nhắc đến G̣ Công là nơi phát tích các ḍng
họ quư tộc. Bài này chỉ kể đến các nhà giàu
xưa. So với các tỉnh nằm trong lưu vực
giữa hai sông Tiền và Hậu Giang, G̣ Công là tỉnh
nhỏ, đất hẹp, nhiều phèn và nước
mặn, mỗi năm chỉ làm ruộng có một mùa. Tuy
nhiên theo nhiều ông già bà cả kể lại đó là
một cuộc đất quư, một thế đất
“Long đầu phượng y” (đầu rồng, đuôi
phượng). Ở đây người ta thường
truyền tụng hai câu ca dao:
Đầu rộng đuôi phụng le the,
Mùa xuân ấp trứng, mùa hè nở con.
Đối với người b́nh dân,
đó là hai câu “thai đố” (xuất quả) tức
buồng cau. Thực vậy, ít có nơi nào trên đất
nước có nhiều địa danh “long phụng” như
vùng G̣ Công, Mỹ Tho, Bến Tre. Nào là Côn Rồng (cù lao
Rồng) trước chợ cũ Mỹ Tho, Côn Phụng
(nơi hành hương của ông Đạo Dừa). Theo
thuyết phong thuỷ đă cắt nghĩa vị trí địa
lư đắc lợi của tỉnh G̣ Công như sau:
“Đất G̣
Công sở dĩ sản sinh nhiều bậc công hầu khanh
tướng (Đức
Quốc công Phạm Đăng Hưng, Long Mỹ Quận
công Nguyễn Hữu Hào, bà Từ Dụ Thái hậu, bà
Đinh Thị Hạnh, thứ phi của vua Thiệu
Trị...) th́ phía Nam G̣ Công là nơi tiếp giáp với
Mỹ Tho, Bến Tre có Vàm Rồng ở làng Vĩnh Hựu,
rạch Long Uông ở xă Tăng Hoà, rạch Long Trọng trên
có cầu Ngang. Rạch này làm ranh giới giữa hai làng
Thạnh Nhựt (G̣ Công) và Hoà B́nh (Chợ Gạo). Hồi
trước có nạn xét giấy thuế thân, ông bà kề
lại, hễ khi hương chức làng xét, dân nghèo
trốn qua làng Ḥa B́nh, c̣n phía Mỹ Tho xét th́ đàn ông
trốn qua làng Thạnh Nhựt như tṛ chơi cút
bắt. Chỗ rạch Long Tượng, nối từ
Thạnh Nhựt ăn ra Tiền Giang, được
gọi là “đầu Rồng”, theo kiểu “long đầu
hí thủy.” C̣n đuôi rồng nằm về phía Bắc.
Vùng phía Bắc tỉnh lỵ G̣ Công, có địa danh
“vườn Phụng” do ông Thôn Cửu lập ra giữa
thế kỷ 19, với G̣ Lân ở làng Sơn Quy. Thế
đất đó gồm đủ “Long Lân Quy Phụng”
tức “tứ linh,” nên làng nào nằm trong cuộc
đất “tứ linh”, sẽ vượng phát phú quư. Các
làng Sơn Quy, Tân Niên Đông, Tân Niên Tây, B́nh Thành... chính là
nơi phát tích các thế gia vọng tộc của Nam
Kỳ hồi đầu thế kỷ này. Đây là quê
hương của các ông Phủ hàm Khiêm (Huỳnh Đ́nh
Khiêm), Phủ Bảy Lê Quang Liêm, Phủ Hải cùng nhiều
nhà giàu lớn khác. Hôi mấy mươi năm
trước, ở vùng G̣ Công có lưu truyền mấy câu
hát:
Bóng lân đă hiện G̣ Đông
Rùa về quy tụ bên sông Tây Đài.
Phụng trương cánh Bắc lố mày,
Rồng thiêng uốn khúc Nam Nhai ẩn ḿnh.
Dưới con mắt của các nhà
địa lư phong thuỷ, chính đây là thế đất
có các huyệt Châu Trước, Thanh Long, Bạch Hổ... ai
có hài cất tổ phụ được an táng vào
những nơi đó, con cháu sẽ trở nên giàu sang phú
quư. Thế đất “G̣ Sơn Quy” nằm ven một con
sông nhỏ, nối rạch Hàng chảy qua chợ G̣ Công, là
nơi có nước ngọt, phù sa tân bồi, là noi lập
vườn, làm ruộng đều tươi tốt.
Đất linh sinh người tài tuấn.
Phụ nữ ở đây nhiều người xuất sắc,
quê của thân phụ Nam
Phương Hoàng hậu, hay những người dân giă
như cô Nguyễn Thị Kiêm
(Manh Manh nữ sĩ), bà Nguyễn Đức Nhuận
(nhũ danh Cao Thị Khanh), chủ nhiệm tuần báo
Phụ Nữ Tân Văn nổi tiếng ở Nam Kỳ
(1928-1933), bà Phan Thị
Bạch Vân, sáng lập “Nữ Lưu Thơ Quán” xuất
bản nhiều sách kêu gọi ḷng yêu nước,
đến nỗi thực dân lo sợ, phải cấm và
bắt bà đưa ra toà... Một thiếu nữ khác, học
giỏi, yêu nước, thuộc hạng thượng
lưu xă hội là bà bác sĩ
Nguyễn Thị Sương. Bà Sương sinh năm
1910, được gia đ́nh cho qua Pháp du học rất
sớm lúc mới 17 tuổi. Tại đây, bà Sương
học các trường Lyceé de Versailles (Nice), rồi qua Aix-
en- Provence, tốt nghiệp Tú tài Triết học. Sau đó
bà lên đại học ban Lư Hóa và đỗ vào
trường thuốc. Năm 1940, bà Nguyễn Thị
Sương là người phụ nữ lục tỉnh
đầu tiên đậu Y khoa bác sĩ. Bà là lănh tụ
Thanh nữ Tiền phong hoạt động mạnh ở
Sài g̣n năm 1945, nhưng sau bị Việt Minh giết v́ uy
tín của bà đối với quần chúng quá lớn.
Chồng bà, bác sĩ Hồ
Vĩnh Kư thuộc nhóm Trotskyist, cũng chịu chung
số phận với bà.
Thuộc hàng thế gia vọng lộc
bậc nhứt tại G̣ Công là gia đ́nh họ Phạm Đăng. Xuất phát từ
Quảng Ngăi, ḍng họ Phạm Đăng theo đoàn
người di dân trong đợt Lễ Thành Hầu
Nguyễn Hữu Cảnh chiêu mộ, đă đến G̣
Công, cất nhà ở tại giồng Sơn Quy. Phải
đợi hai thế hệ sau họ Phạm Đăng có
người ra làm quan cho tân triều tới chức
Thượng Thư, một trong tứ trụ của
triều đ́nh. Phạm
Đăng Hưng có con gái là Phạm Thị Hàng, gả cho
vua Thiệu Trị tức Từ Dụ, mẹ ruột vua
Tự Đức. G̣ Sơn Quy cũng là quê hương
của cô Đinh Thị
Hạnh, thứ phi của Thiệu Trị. Đinh
Thị Hạnh sinh con trai trước bà Từ Dụ,
đặt tên Hồng Bảo, tước An Phong Công,
nhưng không được nối ngôi, mặc dầu là
con trưởng. Việc này đă lạo ra cuộc
đảo chính vua Tự Đức bất thành. Hồng
Bảo bị bức tử trong ngục. Các con của
Hồng Bảo phải đổi theo họ Đinh
của mẹ (Đinh Đạo).
Ông Nguyễn
Hữu Hào và vợ là bà Lê Thị Bính (con gái ông Huyện
sĩ Lê Phát Đạt) đă sinh ra Nguyễn Thị Hữu Lan tức Nam Phương
Hoàng hậu sau này. Nhà giàu xưa thuộc hàng dân giả
có nhiều người có tiếng tăm như ông Phủ Huỳnh Đ́nh Khiêm
ở làng Đồng Sơn, ông Hội
đồng Nguyễn Văn Hạc, ông Phủ Hải...
Theo nhà văn Hồ Trường An cho
biết:
“Người giàu
nhứt tỉnh G̣ Công là “Bà Tư Nói”, tên trong khai sinh là Lâm Tố Liên. thuở hàn vi,
cô Tố Liên bán trầu cau tại chợ G̣ Công hồi Tây
mới qua. Cô Thiên không chồng con. Cô góp nhóp tiền mua
một mẫu ruộng. Sau đó, lần hồi cô mua may
bán đắt, lại có huê lợi của mẫu ruộng,
nên cô sắm thêm ruộng. Công cuộc làm ăn càng lúc càng
thạnh vượng, cô bỏ nghề bán trầu cau,
mở tiệm bán tơ lụa nho nhỏ. Vào tuổi
ngũ tuần, Lâm Tố Liên có lợi tức 400 mẫu
ruộng tốt, giàu bực nh́ ở G̣ Công, ăn
đứt ông Phủ Huỳnh Đ́nh Khiêm (Phủ hàm)
ở Đồng Sơn, ông Cai tổng kiêm Hội
đồng Nguyễn Văn Hạc, ông Huyện Quái, ông
Phủ Hải, ông Hội đồng Đinh Nhựt Chu...
Khi lớn tuổi, cô Lâm Tố Liên
được dân G̣ Công kêu bang “Bà Tư Nói”. Tiệm
của bà bán đủ thứ lănh: lănh Bưởi ngoài
Bắc, lănh Nam Vang, lănh Tân Châu, lănh Thượng Hải (lănh
trơn, lănh bông). Ngoài ra, bà c̣n bán những hàng lụa
sản xuất trong nước như lụa Hà Đông
ở ngoài Bắc, lụa Duy Xuyên ở Quảng Nam, the La
Cai, the và xuyến đất Diên Khánh, hàng Cẩm ở Châu
Đốc, lụa Tân Châu, cùng các loại cẩm nhung,
cẩm vân, cẩm tự, cẩm trước, cẩm
cuốn, cẩm quệt, cẩm kim... (cẩm là loại
hàng lụa, c̣n gọi là “gấm”).
Cẩm nhung có nhiều loại màu, đem ra
ánh sáng mặt trời th́ thấy có vạch sáng rờn
rợn. Cẩm vân, màu trắng, màu vàng, là hàng dệt
nền khô bông mướt h́nh cụm mây. Cẩm tự màu
đen nền ướt bông khô, dệt h́nh chữ thọ,
Cẩm trước màu đen hay trắng, nền
ướt bông khô, dệt h́nh lá trúc. Cẩm cuốn dệt
bông h́nh quyển sách cuốn tṛn, có buộc nơ. Cẩm
quyệt dệt bông h́nh trái quưt có đeo hai chiếc lá.
Cẩm kim dệt h́nh mũi kim nhỏ, thuộc loại
nền khô bông ướt. Lại c̣n cẩm sen loại
nền khô bông ướt, dệt h́nh bông sen. Nếu kêu cho
đúng nghĩa phải gọi cẩm quưt là “cẩm
quất”, cẩm kim là “cẩm châm”,”cẩm sen” là “cẩm
liên”, cẩm cuốn là “cẩm thư” để tránh
tiếng Hán ghép vào tiếng Nôm.
Hàng cẩm tự chỉ để dành may
quần. C̣n các loại hàng cẩm vân, cẩm cúc, cẩm
kim, cẩm sen... để dành may áo. Ngoài ra c̣n dùng
để may áo lẫn quần là cẩm nhung, cẩm
cuốn, cẩm trước, cẩm quưt. Cẩm vân c̣n có
thứ màu tím. Cẩm nhung ngoài màu trắng màu đen, c̣n có
màu tím, màu hường, màu mắm ruốc, màu khói nhang.
Về sau, có thứ cẩm phụng ḿnh khô dệt chim
phụng đang bay, thường có màu đen hay màu
trắng. Người hay chữ thời trước
gọi cẩm là “gấm”. Ở Tây Ninh, chỗ gần ngă
rẽ vào chợ Long Hoa, có một địa danh gọi là
Cẩm Giang (Sông Gấm). Cắt nghĩa hiện
tượng này có người lớn tuổi hiểu
biết chuyện xưa nói rằng: “Cách nay non một
thế kỷ, chỗ này là con rạch đầy rau mát (c̣n
gọi là lục b́nh, hay bèo Nhựt Bản?) trổ bông màu
tím như gấm nên mới đặt tên là Cẩm Giang. Tại
tỉnh Tứ xuyên (chỗ hợp lưu 4 con sông, gần
ngay tỉnh lỵ) bên Trung Quốc, cũng là quê
hương của các loại cẩm lụa. Tương
truyền lụa sản xuất tại Tứ Xuyên, đem
giặt dưới sông này th́ trở nên trong sáng,
đẹp hơn, nên họ đặt. tên sông ấy là “Cẩm
Giang”.
Về sau, bà Tư Nói nhờ một ông
thầu khoán ở chợ G̣ Công gọi là ông Tư Bảy,
cất cho bà một cái nhà ba căn hai chái, nền cẩn
đá da quy (giống như vảy rùa), nền cao tới
ngực, mái lợp ngói lưu ly. Để có thứ ngói
này, ông thầu khoán Tư Bảy phải đặt mua Lái
Thiêu. Ngói lưu ly là ngói móc (có người gọi là ngói
vảy cá, v́ có cái móc để cày vào sườn nhà khi
lợp giống như lớp vảy cá, hoặc vảy
rồng được tráng men bóng lộn. Ông Tư Bảy
mua ngói lưu ly tráng men vàng và ngói lưu ly tráng men lục
để lợp nhà bà Tư Nói. Ngói vàng, dưới ánh
mặt trời, th́ có màu men chậu xứ Giang Tây. Vào mùa
gặt lúa vào giữa tháng Chạp tới giữa tháng Giêng,
mỗi ngày hàng chục chiếc xe ḅ chớ lúa tới
lẫm (vựa lúa) của bà Tư Nói để đong lúa
cho bà. Tuy có nhà đẹp, nhưng bà Tư Nói thích ở
căn tiệm bán lănh lụp xụp của ḿnh, c̣n ngôi nhà
nguy nga tráng lệ của bà, dành cho gia đ́nh bà Bảy em
(em gái ruột của bà. Khi bà qua đời, bà Bảy em
(chớ không phải Em) làm cái nhà mồ cho bà. Ngôi nhà mồ
nguy nga đồ sộ không thua phủ thờ (nơi
thờ bà Từ Dụ Thái hậu, cách chợ G̣ Công 4 cây
số). Khi bà Từ Dụ mất, được an táng
tại Vạn Niên Cơ (Khiêm Lăng) ở ngoài Huế,
nhưng con cháu của Phạm Đăng Hưng ở G̣
Công thuộc hàng quốc thích, xúm lại lập đền
thờ bà, gọi là “Phủ thờ.” Hồi trào Tây lẫn
trào Bảo Đại, các con cháu của ḍng họ Phạm
Đăng khỏi đóng thuế thân lẫn thuế
điền cho nhà nước.
Người giàu thứ hai là ông Tri phủ Huỳnh Đ́nh Khiêm ở
làng Đồng Sơn. Đất Đồng Sơn
thuộc vùng có mùa nước mặn lẫn mùa nước
ngọt, nên có thể lập vườn. Lập
vườn có huê lợi bán quanh năm, c̣n làm ruộng
chỉ được một mùa lúa. Dân G̣ Công ở vùng Tân
Niên Đông, Tân Niên Tây, Kiểng Phước v́ gần
biển, nên có nước ngọt khi có mưa già, nên khó
lập vườn. Họ chỉ làm ruộng
được vào đầu mùa mưa. Ông Phủ Khiêm
nhờ có ruộng lẫn vườn nên mau giàu. Ông là ông ngoại của luật
sư Nguyễn Hữu Châu, nguyên Bộ trưởng
dưới thời Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Ông Châu là rể của luật sư
Trần Văn Chương, chồng trước của bà
Trần Lệ Chi, là anh em cột chèo với ông Ngô Đ́nh
Nhu.
Người thuộc hàng dân giả, giàu
thứ nh́ ở G̣ Công là ông
Hội đồng Nguyễn Văn Hạc (tên một
loài chim). Ông có một người con gái đầu ḷng, tên
là cô Hai Én. Mấy người em trai của cô Hai Én,
đều có tên thuộc loài chim ở miền đồng
bang sông Cửu Long. Đó là cậu Ba Nhạn, cậu Tư
Quắc, cậu Năm Sắt, cậu Sáu Sẻ, Bảy
Trích và Tám Diệc. Cô Hai Én kết hôn với quan thầy
thuốc, tức bác sĩ Nguyễn Như Ánh. Cô có mở
một tiệm may thiệt lớn ngoài chợ G̣ Công.
Cậu Ba Nhạn mua chức hương hào, một
chức nhỏ trong ban hương chức hội tề.
Hồi tiền chiến, các dân cậu ở miệt vườn,
tuy có tiền của, nhưng chẳng có chức phận
chi, thường bỏ tiền ra mua chức hương
hào hay hương thân. Nhờ hai chức đó mà mai sau,
họ có thể leo tới chức hương
trưởng, hương sư, hương cả.
Vào năm 1945, gặp lúc phong trào Việt
Minh nổi dậy, thầy hương hào bị ghép
tội Việt gian, tội địa chủ bóc lột tá
điền, nên Việt Minh xử bắn thầy. Năm
Sắt ôm mối thù không đội trời chung với
Việt Minh, nên t́nh nguyện điềm chỉ cho Tây
những ổ kín của Việt Minh (khi Tây làm chủ
được lục tỉnh), những cơ quan bí
mật của Việt Minh trong lănh thổ G̣ Công để
báo thù cho anh ḿnh... Về sau, Năm Sắt lên Sài g̣n, làm phóng
viên nhiếp ảnh cho nhựt báo Thần Chung. Ông ta
giỏi phong cầm, được quái kiệt Trần
Văn Trạch mời tŕnh diễn phong cầm (accordéon)
trong các buổi phụ diễn tân nhạc cho hai rạp hát
bóng Văn Cầm (Chợ Quán) và rạp Nam Việt (Chợ
Cũ).
Ông
Đốc phủ Hải,
ngoài ruộng đất ra, c̣n là người lập hăng
nước đá đầu tiên ở G̣ Công. Người
con trai của ông là cậu Bé Sáu, được du học
bên Tây, ăn học thành tài. Ông Huyện Quái có người
con trai là ông huyện Hải. Về sau, ông Huyện Quái có
nạp một người vợ goá của một anh tá
điền để làm thiếp. Chị này đẻ
một đứa con trai, đặt tên là Ba Huệ.
Cậu Huệ được cha mẹ cưng,
được anh trưởng chiều chuộng. Cậu
đi học, có tài xế lái xe nhà đưa rước.
Người thiếp của ông Huyện Quái có nhan sắc,
được chồng sủng ái. Trong đám tôi tớ có
đứa ghen tức, đặt điều là ông
Huyện Hải thông dâm với d́ ghẻ, cho nên Ba Huệ là
con của ông Huyện Hải với người thiếp.
Nói như vậy tức là bề ngoài Huyện Hải là anh
Ba Huệ, nhưng thiệt ra là cha của Ba Huệ. Hư
thực ra sao chỉ những kẻ trong cuộc mới
biết.
Ông
Hội đồng Đinh Nhựt Chu có người con trai là hương quản Dương (Đinh Nhựt
Dương) ở Tân Niên Tây. Ruộng đất của ông
đều ở vùng nước mặn (ruộng biển).
Nhưng lúa ở các ruộng biền (biển ở đây
có nghĩa là bưng biền) như lúa tiêu, lúa nàng cơ, lúa
nàng qướt... đều cao hơn lúa ở vùng khác,
hột lại nặng hơn hột lúa thường.
Thầy hương quản Dương giữ chức
thấp trong 12 vị hương chức của ban
hương chức hội tề, nhưng tía thày giữ
chức hội đồng địa hạt, thầy quen
biết các quan tai to mặt bự ở ngoài tỉnh. Vào
thời thái b́nh thịnh trị, tuy giữ an ninh cho làng Tân
Niên Tây, nhưng thầy vẫn ngồi xe máy đi đá gà,
đi hột me. Thầy là người đầu tiên mua
máy đèn, mua giàn hát máy Columbia, mua điă hát nhạc Tây... Sau
đó, thầy cũng là người đầu tiên mua xe
hơi, chiếc Renault Celt 4. Bởi thầy giàu, giao
thiệp rộng, quen biết nhiều nên các ông hương
chức hội tề từ hương cả xuống xă
trưởng, không dám khinh lờn thầy. C̣n các ông Phủ,
ông Huyện, thầy Cai tổng, thầy Bang biện, không
dám cậy oai hùng hiếp thầy.
Thầy
Thôn Thọ, trước
làm thầy giáo. V́ thầy là nhà giàu, nên nghề gơ
đầu trẻ chỉ là nghề để thầy
giải muộn, chớ không phải việc mưu sanh
chánh của thầy. Được ít năm, thầy
nghỉ việc chỉ giữ việc công nho cho làng. Đó
là chức “thôn”, công nho là tiếng xưa, có nghĩa là công
quỹ hay ngân quỹ. Thầy Thôn Thọ có tiệm sửa
xe đạp, bán đồ phụ tùng xe đạp. Ngoài
ra, thầy c̣n bán đèn Ti to Landy của Tây đốt
bằng xăng, sau đó bán đèn Ai da bằng dầu
lửa, và đèn Pétromax của Đức hai loại này
thuộc loại man chon. Về sau, thầy dẹp tiệm
sửa xe, lập một cái đề bô (dépot) rượu,
xéo xéo chợ G̣ Công.
Nhà giàu chót là ông
Hội đồng Lợi nhờ làm ruộng và lập
vườn mà giàu có, chớ không có nguồn lợi nào khác.
Ngoài ra c̣n thầy
Ba Vị, có nhà máy chà gạo ở Vĩnh Trị, cách
chợ G̣ Công 7 cây số, cách giồng ông Huê 3 cây số
cũng là một nghiệp chủ đáng kể. Năm
1945, khi Việt Minh cướp chính quyền, th́ ông
Huyện Hải (con ông Huyện Quái), hương hào
Nhạn, thầy Thôn Thọ, ông Hội đồng Lợi,
thầy Ba Vị cùng hai đứa con trai mới 15, 16
tuổi của thầy đều bị xử bắn. Lúc
đó trong đám Việt Minh ở chợ G̣ Công, có chủ tịch
Côn, là thợ hớt tóc ở tiệm Minh Hồng, làm
chủ tịch Uỷ ban Nhân dân, giữ chức
trưởng ban Quốc gia tự vệ cuộc (Công an).
Thầy giáo Philippe (thủ lănh Thanh niên Tiền phong),
Trần Thanh Liêm bí thơ uỷ ban Nhân dân và tên chủ
tiệm tạp hoá Vạn Lợi (không giữ chức
vụ ǵ). Khi Tây tới chiếm tỉnh G̣ Công, có khuyên dân
chúng ai lỡ theo Việt Minh trong thời kỳ Việt
Minh cướp chính quyền, hăy ra đầu thú, sẽ được
ân xá để làm ăn như xưa. Chỉ trừ
chủ tịch Côn, tên thợ hớt tóc tiệm Minh
Hồng, thầy giáo Philippe, tên Trần Thanh Liêm, tên chủ
tiệm Vạn Lợi, là 4 tên tội phạm đầu
sỏ, cần phải bắt giết để trừ
hậu hoạn.
Về sau thầy giáo Philippe, ban đêm
băng qua con lộ Giây thép, bị lính partisan đi tuần
tiểu bắn chết. Tên thợ hớt tóc tiệm Minh
Hồng, ban đêm lẻn về thăm vợ ở làng
Vĩnh Trị cũng bị lính ở đồn Vĩnh
Trị phục kích bắn chết tại trận. Họ
cột thây hắn treo lên cây ở lộ Giây Thép để
cho thân nhân của những kẻ chết đến nḥm
mặt. C̣n chủ tịch Côn thoát chết trong một
trận ruồng bố, cảm thấy ăn năn
tội cũ, nên cùng tên chủ tiệm Vạn Lợi
trốn lén núi Thiên Giải ở Bà Rịa để tu hành.
Từ năm 1946 trở về sau, cả hai không bao giờ
chường mặt ở lănh thổ đất G̣ Công
nữa. Trải qua bao cuộc biển dâu, không ai c̣n
nhắc tới họ nữa”.
Ngoài ra, trong tỉnh G̣ Công cũng c̣n
nhiều nhà giàu xưa, kẻ ở phía bắc tỉnh
lỵ, người ở phía Nam như ông Phủ Bảy Lê Quang Liêm, ông huyện Hiền, ông Hội đồng Nguyễn
Minh Chiếu (có tên đường ở Phú Nhuận).
Ông Phủ Lê Quang Liêm (1881-1945)
Ông thuộc thế hệ thứ hai, sau các ông Tôn Thọ
Tường, Đỗ Hữu Phương, Trần Tử
Ca... là những người cộng tác trung thành với
Pháp. Sinh trưởng tại G̣ Công năm 1881, Lê Quang Liêm
học trường Mỹ Tho, rồi lên Sài g̣n, học tiếp
trường Chasseloup Laubat. Năm 1897, Lê Quang Liêm tốt
nghiệp tương đương bậc Trung học
đệ nhứt cấp (cấp 2) ngày nay. Nhiệm sở
đầu tiên của ông Liêm là thư kư tập sự
tại Phủ thống đốc Nam Kỳ, sau đó
đổi ra làm việc tại Phủ toàn quyền tại
Hà Nội từ năm 1899 đến 1906. Bước
đường công danh của ông ran lượt thăng
Tri huyện năm 1909, Tri phủ 1914.
Trong thế chiến thứ nhứt 1914-1918, Lê Quang Liêm
t́nh nguyện phục vụ bên Pháp, làm phụ tá cho bác
sĩ Lê Quang Trinh (người Bến Tre), coi đám lính
thợ người Đông Dương. Hồi hương
khi thế chiến thứ nhứt chấm dứt, ông Liêm
được thăng Đốc phủ sứ hai năm
sau đó. Lúc mới về nước, Lê Quang Liêm cộng
tác với các ông Nguyễn Phú Khai, Trần Văn Khá, Bùi Quang
Chiêu, lập ra đảng Lập hiến, tranh đấu
ôn hoà, và chỉ bênh vực quyền lợi cho các nhà giàu.
Từ năm 1926 về sau, Lê Quang Liêm đắc cử
Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ, từng
giữ chức Phó chủ tịch hội đồng này
từ năm 1937-1938. Ông được Pháp cử tham
dự các phiên họp Hội đồng Kinh tế Lư tài
Đông Dương từ năm 1929-38. Ông Lê Quang Liêm
được dân chúng G̣ Công quen gọi “Ông Phủ
Bảy”, là người giàu có lớn nhờ thực dân ban
bố nhiều đặc quyền về ruộng
đất. Ông hiểu biết thủ tục khẩn
đất hoang. Về việc này Lê Quang Liêm bị báo chí
các năm 1934, 1935 đả kích trong hành động
“chiếm đất của nông dân trực tiếp khai phá”
tại vùng Cái Sân (Thạnh Quái), nên bị gán cho mấy
chữ “Ông Phủ Lê Thạnh Quái”. Tuy bị báo chí phanh phui,
nhưng v́ có thế lực và thực dân che chở, nên
nội vụ bị ém nhẹm.
Về hoạt động xă hội, văn hoá, Lê Quang Liêm
là một trong các sáng lập viên Hội khuyến học,
Quỹ học đường ở Chợ Lớn.
Ngoài ra tại G̣ Công, Lê Quang Liêm cùng các ông Hồ Biếu
Chánh, ông Huyện Trị (thân phụ cô Manh Manh nữ
sĩ)... lập ra “Miếu thờ Khổng Tử”.
Năm 1945, khi Việt Minh nổi dậy cướp
chính quyền khắp Nam Kỳ, Lê Quang Liêm là một trong
nạn nhân đầu tiên của họ. Sau khi Pháp tái
chiếm miền Nam, dùng tên Lê Quang Liêm để đặt
cho một con đường dưới mé sông Chợ
Lớn.
Nhà
giàu lớp trước nữa, thuộc thế kỷ 19,
được người đời nhắc tới là
ông Mai Tấn Huệ,
một cự phú đă khai thác nhiều sở ruộng,
lập vườn, xây đập để ngăn
nước mặn tràn vào ruộng. Nghe đâu hồi
trước ông làm quan vơ dưới triều Nguyễn
tới chức Chưởng cơ, nên dân chúng nhớ ơn
gọi chỗ đó là “đập ông Chưởng”, nay
vẫn c̣n.
G̣ Công c̣n là quê hương của một
chàng công tử ăn chơi khét tiếng được dân
chúng tôn là “dân cậu” hay “công tử” tiền phong của Nam
Kỳ. Cuộc đời của công tử Hai Miêng, con lănh binh Huỳnh Công Tấn, chúng tôi có viết lại trong
bài G̣ Công, nơi phát tích các ḍng họ quư tộc. Làng
Đồng Sơn, trù phú nhứt trong tỉnh, ruộng sâu,
đất cát ph́ nhiêu, vườn tược nhiều cây
trái tươi tốt. Đó là cuộc đất của
nhiều bậc cự phú trong tỉnh. Đồng Sơn
cũng là quê quán của người viết tiểu
thuyết tiên phong ở Nam Kỳ là Lê Sum, tự
Trường Mậu (Viết báo Nông Cổ Mạn Đàm).
Chỗ này là trung lâm văn hoá của G̣ Công hồi giữa
thế kỷ 18. Từ miền ngoài, các vị khoa bảng
lỡ vận, các ông đồ theo đoàn người di
dân đến đây lập nghiệp. Lớp người
có căn bản Nho học đầu tiên ấy, đă
đào tạo các ông Nhiêu Phan, Nhiêu Chánh ở địa
phương.
Luật sư Vương Quang Nhường,
rể vua Thành Thái
Ngoài ra, G̣ Công c̣n là quê
hương của nhiều nhân vật lừng danh của
Nam Kỳ.
Vương
Quang Nhường là một khuôn mặt trí thức lớn
của Nam Kỳ, sinh năm 1902, tại Yên Luông Đông, G̣
Công. Sau khi thôi học trường Mỹ Tho, Vương
Quang Nhường qua Pháp theo học trường Luật và
Kinh tế, tốt nghiệp Tiến sĩ Luật khoa.
Về nước trước khi có cuộc khủng
hoảng kinh tế (1929), ông Nhường làm luật sư
tập sự tại văn pḥng luật sư A.M. Hussant.
Đến năm 1932, ông chính thức trở thành luật
sư thực thụ và gia nhập Luật Sư đoàn
của toà Thượng thẩm Sài g̣n. Là người có
học vấn cao, kiến thức rộng, Vương
Quang Nhường được các giới thượng
lưu Việt Pháp kính nể.
Nhiều người địa
phương c̣n nhắc chuyện thời trai trẻ
của ông Nhường. Ông Nhường có đính hôn
với một nữ bác sĩ tên Henriette Bùi, con ông Bùi Quang
Chiêu, người quê ở Mỏ Cày. Về sau cuộc hôn
nhân bất thành, nên họ huỷ bỏ giao ước.
Không rơ trường hợp nào khiến ông Vương Quang
Nhường trở thành rể vua Thành Thái, là chồng
của công chúa 16 tức Mệ Cưới. Mệ
Cưới là em ruột cựu hoàng Duy Tân, có mặt trong
đoàn ṭng vong với Duy Tân, qua đảo Réunion ở
mấy năm mới xin hồi hương. Khi Pháp trở
lại Nam Kỳ, t́m một số các cộng sự viên
cũ, hay những người có quyền lợi gắn bó
với Pháp để mời ra cộng tác, trong đó có
luật sư Nhường.
Tuy được mời nhiều lần,
nhưng ông không nhận một chức vụ nào. Măi
đến ngày 6-5-1950, ông Vương Quang Nhường
mới nhận chức Tổng trưởng Quốc gia
giáo dục trong chính phủ Trần Văn Hữu và sau
đó là chính phủ Nguyễn Văn Tâm. Vua Thành Thái
được hồi hương về Việt nam từ
năm 1947, cũng nhờ công vận động của con
rể này. Về Sài g̣n, cựu Hoàng Thành Thái sống trong
một căn phố như người dân thường.
Có lần Ngài lên Đà Lạt và chụp ảnh chung với
con Hoàng Bảo Đại. Chúng tôi muốn kể thêm
một nguồn tin mà dân chúng Nam Kỳ hay kể lại
“Thời gian vua Thành Thái sống lưu vong ở Vũng Tàu,
ngụ trong Bạch Dinh, có ân t́nh với một phụ
nữ giàu có, xinh đẹp ở Sài g̣n. Đó là cô Tám
(Ngoạn?) chủ một rạp hát bộ tại Chợ
Lớn. Dư luận dị nghị cho rằng trong
thời gian cô Tám tới lui Vũng Tàu, bỏ tiền ra cung
phụng nhà vua mất ngôi ăn xài. Nhà vua có lặng cô Tám một
bộ đồ trà rất quư để kỷ niệm, và
được gia đ́nh cô Tám đem triển lăm lại
Kích Mếch “vườn Bồ- rô” cho công chúng thưởng
ngoạn!
Có hai biến cố đáng ghi nhớ cho dân
chúng G̣ Công và ḍng dơi ngoại thích các vua: đó là vào năm
1942, do lời mời của Toàn quyền Đông
Dương, Hoàng đế Bảo Đại, Hoàng hậu
Nam Phương có ngoạn du Sài g̣n, xuống thăm G̣ Công.
Mấy tuần sau, nhà vua sang thăm xứ Chùa Tháp theo
lời mời của Quốc vương Căm Bốt.
Sau đó Hoàng đế, Hoàng hậu đi thăm
Đế Thiên, Đế Thích, rồi trở về qua
ngả Hạ Lào.
Khi hồi hương, cựu Hoàng Thành Thái
có đến viếng G̣ Công và được quư tộc
họ Phạm, họ Nguyễn tiếp đón trọng
thể. Dịp này các lăng miếu thờ
được trùng tu, quét dọn để cựu Hoàng
Thành Thái đến viếng.
Đức Giám Mục
Nguyễn Bá Ṭng (1868-1949) ở Sài g̣n, kể từ thập
niên 1960 trở đi, không ai là không biết hay nghe nhắc
tới trường Trung học Nguyễn Bá Ṭng, Chợ
Đũi. Đó là một ngôi trường lớn, khang
trang, bề thế, được học sinh và phụ
huynh tín nhiệm. Nguyễn Bá Ṭng là người G̣ Công, chào
đời năm 1868 trong một gia đ́nh Công giáo nghèo. Lúc
nhỏ, cậu bé Nguyễn Bá Ṭng được các cố
đạo dạy dỗ trong các trường nhà ḍng,
rồi đưa thẳng vào liều chủng viện Sài
g̣n.
Năm 1896, Ngài được phong Linh
mục, và được bổ làm thơ kư tại Toà giám
mục Sài g̣n đến năm 1916. Sau đó, cha Nguyễn
Bá Ṭng được đổi ra cai quản họ
đạo Bà Rịa, rồi trở về Tân Định.
Trong thời gian cai quản họ đạo Tân
Định, nhiều công tŕnh phúc lợi của đạo
và đời do Ngài thực hiện, được dân chúng
địa phương nhớ ơn. Ngoài công việc chánh
là dẫn dắt con chiên, cha Nguyễn Bá Ṭng c̣n hoạt
động trong lănh vực văn hoá, xă hội: coi nhà in,
giúp đỡ người nghèo, trẻ em mồ côi. Năm
1932, Ngài qua La Mă thọ phong giám mục, rồi hồi
hương, ra Phát Diệm làm phụ tá cho giám mục Pháp
Marcou.
Khi thế chiến thứ hai sắp bùng
nổ, Toàn quyền Decoux nhân danh “chánh phủ Pháp tặng
cho Ngài “Bắc đẩu bội tinh” để lôi kéo
người Công giáo trung thành với Pháp, nhưng Ngài
cương quyết xin hồi hưu. Năm đó (1944),
Ngài đă 76 buổi. Giám mục Nguyễn Bá Ṭng mất
năm 1949, thọ 81 tuổi. Đức Giám mục Nguyễn
Bá Ṭng là một vị chân tu, đóng góp nhiều công sức
cho giáo hội, cứu giúp đồng bào nghèo khổ và
trẻ mồ côi. Ngài là ân nhân của những kẻ
bất hạnh không phân biệt lương giáo.
Một nhà văn tiền chiến khác ở
G̣ Công là ông Hồ Văn Hiến (1900-1957), bút hiệu Viên
Hoành, em ruột của nhà văn Hồ Biểu Chánh. Bút danh
Viên Hoành là do xáo trộn mấy chữ trong tên họ ông.
Viên Hoành viết báo đồng thời với các ông
Nguyễn Chánh Sắt, Nguyễn Viên Kiều, Lê Hoẵng
Mưu, Trương Duy Toàn, Đặng Thúc Liêng... Tên
tuổi ông xuất hiện trên các báo: Nông Cổ Mím Đàm,
Lục Tỉnh Tân Văn, Đông Pháp thời báo, Trung
Lập Báo, Công Luận...Sau khi Pháp trở lại Việt
nam, Viên Hoành cũng ra bưng theo kháng chiến, nhưng
biết rỏ thủ đoạn của Việt Minh, nên
ông trở ra thành. Thời gian này, Viên Hoành cộng tác
với các báo: Tiếng Dội, Dân Quyền, Trời Nam...
Nhà báo Viên Hoành là người sống có t́nh
nghĩa với anh em bè bạn. Ông có cuộc sống b́nh
dị, có chữ viết đẹp, văn chương
trong sáng, trọng đạo lư được nhiều
người quư trọng. Nhà báo Viên Hoành mất ngày 7-12-1957,
hưởng dương 57 tuổi. Ngoài ra thuở đó c̣n
có ông Lê Sum (Trường Mậu) từng là chủ bút “Công
Luận Báo”. Lê Sum việt báo đồng thời và cũng
là bạn của các ông Nguyễn Từ Thức,
Lương Khắc Ninh, Nguyễn Viên Kiều...
Phú
hộ ở Mỹ Tho
Cũng thuyết “địa linh nhân
kiệt” đă cắt nghĩa tại sao làng Điều Hoà
ở Mỹ Tho lại có nhiều vị Đốc phủ
sứ nhứt Nam Kỳ. Đó là quê hương của các
ông Đốc phủ sứ
Nguyễn Văn Thâm, Phủ Lê Minh Tiên, Phủ Lê Văn
Mầu, Phủ Lê Công Sủng (thân phụ công tử
Phước George).
Ông
Phủ Nguyễn Văn Kiên
sinh năm 1878 lại làng Điều Hoà Mỹ Tho, thuở
nhỏ theo học trường Le Myre de Vilers, rồi sau
tiếp tục lên Sài g̣n theo học trường thông ngôn
tức “College des Stagiaires”. Những thập niên cuối
thế kỷ 19, Pháp mở trường thông ngôn có mục
đích đào tạo lớp người công chức
bản xứ, nên họ hàng nâng đỡ, cấp học
bổng để theo học. Nhiều gia đ́nh nghèo,
nhưng có con hiếu học, chỉ vài năm sau trở
thành thầy kư, thầy thông, rồi từ từ leo lên hàng
phủ, huyện cũng dễ dàng. Tốt nghiệp năm
1898, ông Kiên lần lượt thăng huyện, rồi
phủ và từng ngồi chủ quận ở các quận
Thủ Thừa, B́nh Phước (Tầm Vu) thuộc
tỉnh Tân An và Ô Môn thuộc tỉnh Cần Thơ.
Ông
Phủ Nguyễn Văn Thâm
sinh năm 1882, sau khi tốt nghiệp tại trường
Mỹ Tho, ông lên Sài g̣n, thi vô trường lớn Chasseloup
Laubat. Năm 1900, ông ra trường làm thư kư tập
sự tại dinh Thống đốc (c̣n gọi Soái
phủ), rồi đổi ra làm đại lư hành chánh
(như Quận trưởng) tại các tỉnh Sa
Đốc, Tân An, Trà Vinh... tới năm 1935 th́ về
hưu với nấc thang chót của quan trường
ngạch thuộc địa: Đốc phủ sứ.
Các ông Lê Minh
Tiên, ông Lê Văn Mầu, dân cố cựu ở Mỹ
Tho Vĩnh Long đều nghe danh tiếng về sự giàu
có. Riêng ông Phủ Lê Văn Mầu, đương thời
làm chủ trọn cù lao Rồng trước chợ Mỹ
Tho. Cù lao Rồng, tên chữ là Long Châu, do vua Gia Long
đặt ra, nằm án ngữ trước châu thành Mỹ
Tho, dài 2 cây số. Thời Pháp thuộc, chỗ này là nơi
an trí người bịnh cùi. Sau
Trần Bá Lộc, ông Đốc phủ Mâu có lẽ là
người giàu nhứt nh́ trong tỉnh Mỹ Tho. Theo
dư luận những vị cao niên kể lại cho
biết giai thoại “ác lai ác báo”. Đó là sự nghiệp
của hai cha con Tổng đốc Trần Bá Lộc và con
là Trần Bá Thọ (Hội đồng quản hạt,
kiêm Tổng đốc hàm). Nguyên vào năm 1876, Trần Bá
Lộc có mua trọn cù lao Dài, c̣n gọi là cù lao Ngũ
Hiệp hay cù lao “Năm Thôn” (sau này là xă Quái Thiện,
quận Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long). Sở dĩ
gọi “Cù lao Năm Thôn” v́ trên cù lao này có 5 ấp: Thanh B́nh,
Thanh Lương, Phù Thới, Thới B́nh... Cù lao này, hồi
Pháp mới chiếm được Nam Kỳ (1872) có bán cho
hai Đại uư Hải Quân giải ngủ là Brou và Taillefer
với giá tượng trưng chỉ có 3000 quan (Francs). Hàng
năm Taillefer và Brou phải trả thêm 3180 quan (Francs)
như tiền thuế và phải trả măn đời.
Phú hộ ở Tân
An
Tân An là một tỉnh nhỏ, đất nhiều phèn,
nhưng là chỗ khởi nghiệp của ông Huyện Sĩ (Lê Phát Đạt), nhà giàu nhứt
Nam Kỳ, được dư luận gọi là “Thiên
hạ đệ nhứt gia”.
Nam Phương Hoàng hậu là con gái thứ
của ông bà Nguyễn Hữu Hào, người quê quán
tại G̣ Công. Ông Hào sinh trong một gia đ́nh đại
điền chủ, có đạo Công giáo, từng du học
bên Pháp, đậu Tú tài toàn phần. Sinh thời, ruộng
đất của gia đ́nh ông Hào rải rác khắp các
tỉnh Nam Kỳ. Tại quận Long Mỹ (1928) thuộc
tỉnh Rạch Giá, sau sáp nhập vào tỉnh Cần
Thơ, có 1000 mẫu ruộng thuộc gia đ́nh Nguyễn
Hữu Hào, v́ thế ông chọn địa danh “Long Mỹ”
làm tước phong cho ḿnh: Long Mỹ Quận công. Bà Nguyễn Hữu Hào tên
thật là Lê Thị Bính, con gái thứ của ông Huyện
Sĩ Lê Phát Đạt và bà Huỳnh Thị Tài, chào
đời tại Tân An, khi ông Huyện Sĩ làm thông ngôn
tại đây. Bà Lê Thị Bính cũng là một đại
điền chủ cùng với các anh như Lê Phát Thanh, Lê Phát Vĩnh, Lê Phát Tân... làm chủ
nhiều đất đai thuộc quận Đức Hoà,
Đức Huệ, và một phần lớn đất
ruộng nay thuộc Đồng Tháp Mười. Ông
Huyện Sĩ cũng là Hội đồng quản hạt
Nam Kỳ từ năm 1880. Theo dư luận của
người địa phương, ngôi nhà lầu
đồ sộ của ông Huyện Sĩ tại Tân An
(nằm gần ngă ba sông Tân An và Bảo Định) cất
trên thế đất hàm rồng, do đó gia đ́nh ông
Huyện Sĩ giàu có lớn và danh vọng nhiều
đời. Trưởng nam ông Huyện Sĩ là ông Lê Phát
An, có tên Tây là Denis Lê Phát An, là một đại quư tộc
đúng nghĩa. Lê Phát An được Hoàng đế
Bảo Đại phong lược An Định
Vương, tước hiệu cao quư nhứt của
triều đ́nh và chỉ phong cho một người duy
nhứt ở Nam Kỳ thuộc hàng dân giă. Lê Phát An là
cậu ruột của Nam Phương Hoàng hậu.
Năm 1934, nhân dịp gả cháu gái của
ḿnh về làm Hoàng hậu ở Huế, Lê Phát An có tặng
cho cô Nguyễn Thị Hữu Lan một số tiền là
một triệu đồng (tiền mặt) để làm
của hồi môn. Gia đ́nh Nguyễn Thị Hữu Lan
giàu hơn cả Bảo Đại. Trong đời làm vua
của Hoàng đế Bảo Đại, ông xài tiền
của vợ nhiều hơn tiền của hoàng gia. Cô
Mariette Jeannelte Nguyễn Thị Hữu Lan sinh ngày 4-12-1914
tại Cầu Kho, Sài g̣n. Lúc nhỏ, cô Lan được
gia đ́nh gởi theo học trường nhà ḍng dành riêng cho
các gia đ́nh Công giáo quư phái tại Sài g̣n. Năm 17 tuổi
(1926), cô Lan qua Pháp du học tại trường Couvent des
Oiseaux. Năm 1932, cô Lan tốt nghiệp Tú tài toàn phần và
có ư định trở về Việt nam nghỉ hè,
trước khi trở qua học tiếp đại
học Luật khoa. Trong dịp này, cô Lan gặp gỡ
vị Hoàng đế trẻ tuổi, đẹp trai
Bảo Đại.
Ngày 6-2-1934, năm Bảo Đại thứ
9, lễ cưới cô Nguyễn Thị Hữu Lan diễn
ra tại điện Kiến Trung ở Huế, và lễ
tấn phong Hoàng hậu diễn ra tại điện Dưỡng
Tâm. “Nam Phương” mỹ danh hoàng hậu có nghĩa là
“hương thơm từ phía Nam” do Phạm Quỳnh
đặt ra. Bà Nam Phương là một phụ nữ xinh
đẹp, có gương mặt phúc hậu, mắt
phượng, nhỏ, nhưng thuộc hạng quư phái, tính
t́nh b́nh dân. Trước khi nhận làm vợ của Hoàng
đế Bảo Đại, bà có một yêu cầu “Khi
về nhà chồng bà sẽ giúp chồng cai trị việc
nước như một người cố vấn thân
cận”.
Lần lượt Nam Phương Hoàng
hậu đă hạ sinh:
-
Ngày
10-12-1936 bà hạ sinh hoàng tử Bảo Long. Triều
đ́nh bắn mấy phát súng đại bác để chào
mừng.
-
Ngày
1-5-1937, công chúa Phương Mai chào đời.
-
Ngày
3-11-1938, công chúa Phương Dung chào đời.
-
Ngày
5-2-1942, công chúa Phương Liên chào đời.
Năm 1934, bà Nam Phương cùng 3 con
(chưa sinh Phương Liên) tháp tùng Hoàng đế Bảo
Đại qua thăm nước Pháp. Nhân dịp này bà có ghé
La Mă và được Đức Giáo Hoàng tiếp kiến
(Lúc đó là Giáo Hoàng Le Pape). Hàng năm, triều đ́nh
đều có cử hành lễ sinh nhựt của bà Nam
Phương gọi là “Lễ Trường Hỷ”. Hơn
một thập niên sau ngày cưới, gia đ́nh Hoàng
đế Bảo Đại sống rất hạnh phúc.
Bà Lê Thị Bính là một người
đàn bà đẹp phúc hậu, giàu có nhờ ruộng
đất. thuở nhỏ cô Bính theo học trường
đạo tại Sài g̣n. Sau khi thành hôn với ông Nguyễn
Hữu Hào, hai vợ chồng thường sống tại
biệt điện ở đường Nguyễn Du, sau
này là toà Đại sứ của Đại Hàn. Thỉnh
thoảng hai ông bà lên nghỉ mát ở Đà Lạt v́ ông Hào
có nhiều đồn điền ở Cầu Đất.
Hai ông bà Nguyễn Hữu Hào chỉ hạ sinh có hai
người con gái:
- Trưởng nữ là cô Agnès Nguyễn
Hữu Hào, kết hôn với Bá tước Didelol, Khâm
mạng hoàng triều công thổ. Hồi năm 1995, tôi
được nghe bà c̣n sống ở bên Pháp, nhưng già,
điếc nên ít ai được tiếp xúc với bà.
- Thứ nữ là cô Mariette Jeannette Nguyễn
Hữu Hào tức Nguyễn Thị Hữu Lan, tức Nam
Phương Hoàng hậu.
Ông Hào là trong những đại
điền chủ học thức, biết cách kinh doanh
đồn điền. Sinh thời ông Hào có đồn
điền cao su ở Biên Hoà, Bà Rịa, Đà Lạt,
nhiều ruộng đất ở G̣ Công, Tân An và Rạch
Giá.
Năm 1935, Hoàng đế Bảo
Đại phong cho ông Nguyễn Hữu Hào “Long bội tinh”
hạng nhứt, kèm lược “Long mỹ hầu” trong
một buổi lễ tổ chức ở Đà Lại.
Đồng thời nhà vua cũng phong cho nhạc mẫu Lê
Thị Bính lược “Nhị phẩm phu nhân”. Ngày 28-6-1937,
Hoàng đế Bảo Đại tặng mề đay “Kim
khánh” hạng nhứt cùng mề đay “Kim tiền hạng
nhứt” là huy hiệu cao nhứt của triều đ́nh
cho cha vợ là ông Nguyễn Hữu Hào. Bà Lê Thị Bính được
phong “Nhứt phẩm phu nhân”.
Ngày 30-8-1937, Hoàng đế Bảo
Đại sắc phong cho ông Nguyễn Hữu Hào
lược “Long Mỹ Quận công”. Long Mỹ Quận công
Nguyễn Hữu Hào từ trần ngày 13-9-1937,
được an táng theo nghi thức tước Quận
công trong một ngôi nhà mồ tráng lệ, trên một ngọn
đồi gần thác Cam Ly Đà Lạt. Lăng Nguyễn
Hữu Hào là do chính gia đ́nh bà Nguyễn Hữu Hào bỏ
tiền ra xây cất. Lễ quy lăng được
cử hành ngày 10-9-1941. Ngày đó là một biến cố
lớn tại Đà Lạt khi Hoàng gia, gia quyến ông
Nguyễn Hữu Hào, các quan lại cao cấp Pháp Việt,
đều có mặt đông đủ trong một buổi
lễ trang nghiêm tại nhà thờ Thánh Nicolas. Nhân dịp
này, Nguyễn Tiến Lăng, bí thư của bà Nam
Phương Hoàng hậu có viết một bài bằng
tiếng Pháp đăng trên báo l”Indochine” số 58 với
tựa đề: “Le Premier Monument Historique Annamité à Dalat”
(Một đài kỷ niệm lịch sử đầu tiên
của người Việt tại Đà Lạt).
Buổi lễ quy lăng được
tổ chức dưới sự hiện diên của:
- Hoàng
đế Bảo Đại và Nam Phương Hoàng hậu.
-
Bà Bá
tước Didelot, chị ruột Hoàng hậu cùng chồng
là Bá tước Didelot, Khâm mạng Hoàng triều
cương thổ. Ông bà Lê Phát An, tức An Định
Vương, cậu ruột Hoàng hậu.
-
Toàn quyền
Decoux và vợ là Suzane.
-
Giám
mục Cassaigne, Drapier.
-
Khâm
sứ Trung Kỳ Grandjean.
-
Một
số đông quan khách Pháp Việt...
Bà Suzanne là bạn thân của Hoàng hậu Nam
Phương. Thỉnh thoảng từ Sài g̣n, bà Suzanne lên
Đà Lạt và ở chơi với bà Nam Phương vài ba
ngày. Bà Suzanne là người Công giáo, ngoan đạo, đóng
góp nhiều tiền bạc cho giáo đường Thánh
Nicolas. Trong một chuyến lên Đà Lạt thăm bà Nam
Phương, bà Suzanne bị tai nạn (xe lật trên đèo
Prenn) và tử nạn. Thi hài bà được chôn phía sau nhà
thờ kể trên.
Tân An cũng có nhiều người giàu
lớn như ông Cai Nguyên, ông
Hội đồng Vận, và nhứt là gia đ́nh họ
Nguyễn tại làng Tân Trụ, dược người
địa phương gọi là “gia đ́nh danh giá
nhứt” trong tỉnh. Dưới con mắt của
người dân quê, ai giàu có, may mắn có nhiều con trai, gái
ăn học thành tài, dỗ đạt ra làm quan, cũng
nhờ phước đức ông bà kiếp trước
ăn ở hiền lành:
Khen ai kiếp trước khéo tu,
Ngày sau con cháu vơng dù nghinh ngang.
Gia
đ́nh họ Nguyễn làng Tân Trụ gồm có các ông:
Người anh cả là Nguyễn Văn Ca, làm Quận, tột bực trong
ngành hành chánh tức Đốc phủ sứ, từng
ngồi ghế chủ quận Ô Môn.
Người thứ hai là Nguyễn Văn Vinh, cũng học trường
Chasseloup Laubat, trước làm thơ kư Phủ Thống
đốc Nam Kỳ, rói được thăng huyện,
đốc phủ sứ từng ngồi chủ quận
nhiều nơi khắp lục tỉnh.
Em trai thứ ba Nguyễn
Văn Duyên, giáo sư, du học Pháp, đỗ bằng
Brevet Superieur, từng giữ nhiều chức vụ cao
trong ngành giáo dục.
Hai em kế là Nguyễn
Văn Liễn, Nguyễn Văn Phán đều là
dược sĩ, tốt nghiệp trường
Dược Hà Nội. Người em út Nguyễn Văn Khát, y sĩ Đông Dương,
cùng khoá với các bác sĩ Phương Hữu Long,
Nguyễn Bính (thân phụ nhà văn An Khê) ông là thân phụ
của luật sư Nguyễn Văn Huyền, nguyên
chủ tịch Thượng Nghị Viện thời
Việt nam Cộng hoà.
Ông cai tổng Lê
Quang Hiến ở Cao Lănh
Nhắc tới ông Cả
Hiển (về sau làm Cai
tổng) ở Cao Lănh, những năm đầu thế
kỷ này không ai quên được một gia đ́nh giàu có
nhân hậu, Mạnh Thường Quân của các nhà văn,
nhà thơ. Nhà ông lúc nào cũng dập d́u tân khách từ
Lục tỉnh, Sài g̣n, miền Trung và Bắc, nơi nào
cũng có khách tới viếng thăm ông Cả Hiển v́
nghe tiếng đồn về sự đăi ngộ,
lịch lăm của ông. Ở địa phương, tuy
chỉ giữ chức ông cả trong làng, nhưng ông giao
thiệp với các nhà tai mắt, các phủ huyện,
hội đồng địa hạt, quản hạt.
Những năm đầu thế kỷ 20, các ông Hội đồng
Nguyễn Quang Diêu, hội đồng Vị, hội
đồng Nguyễn Thần Hiến... thường ghé
thăm ông, bàn chuyện quốc sự. thuở đó, phong
trào cầu cơ khá thịnh hành. Gia đ́nh ông trở nên
một chỗ hầu đàn (cầu cơ) cho các vị
phủ, huyện, hội đồng mỗi tháng vài ba dân.
Dưới mé sông trước nhà ông Cả Hiển tại
xă Hoà An, (Cái Tôm), Cao Lănh, lúc nào cũng có nhiều ghe hầu,
ca nô tấp nập.
Một thú vui khác của ông Cả Hiển là đá gà
ṇi. Nhà ông là một trại gà lớn phía sau vườn. Ông
mướn riêng một người làm công chuyên môn nuôi gà
đá độ. Cũng như ông Hội đồng
Điếu ở Bạc Liêu, ông chủ Trước ở
Rạch Gầm, nhà ông Cả Hiển cũng là một
trường gà danh tiếng. Khách sành điệu tới
chơi, được ông đích thân hướng dẫn
ra phía sau vườn để khoe những con gà ṇi
chiến, từng làm trận và chiến thắng vẻ vang.
Ông có xây bội nhốt riêng, được săn sóc
từng giờ, từng ngày. Nói tới “gà ṇi Cao Lănh”,
người b́nh dân hay giới thích đá gà đều không
quên hai câu hát ru em:
Gà nào hay cho bằng gà Cao Lănh
Gái nào bảnh cho bằng gái
Tân Châu...?
Hồi trước ở Nam Kỳ, người ta
thường đá gà trong những trường gà công khai,
lộ thiên. Chủ trường gà thường là những
người tai mắt trong làng, có quyền thế mới
không bị thực dân làm khó dễ. Người Pháp cấm
đá gà v́ có “Hội bảo vệ súc vật”.
Trường gà lập trên một miếng đất
trống, có mái che như một cái trại lớn, xung quanh
có rào thưa, thấp hoặc không. Các trường gà
nổi tiếng khắp Nam Kỳ như trường gà Cao
Lănh (ông Cả Hiển), trường gà Cho Giữa Vĩnh
Kim (chủ Trước), trường gà Bạc Liêu
(Hội đồng Điếu), trường gà kinh xàng Xà
No (Cần Thơ)...
Trường gà Cao Lănh có khi được tổ
chức trước miếu thờ ông bà chủ cho
Đỗ Công Tường. Ông Tường là người
Quảng, di cư vào Cao Lănh lập nghiệp. Ông làm chức
Câu đương (xử kiện) và thường hay làm
phước, giúp đỡ dân nghèo. Chính ông bà xuất
tiền ra lập chợ Cao Lănh, nên dân địa
phương nhớ ơn, gọi là Chợ Câu Lănh (ông
Tường c̣n có tên khác là Lănh). Lâu ngày, người
đời sau đọc trại hai chữ “Câu Lănh” thành Cao
Lănh. Trường gà này nằm phía dưới kinh thầy
Cai Khâm. Vào những năm trước thế chiến
thứ nhứt, biện trường gà nổi danh là ông Sáu
Chỉnh, người chuyên môn làm thơ kư, ghi chép mỗi
độ gà, giá liền đá, tên các người hàng xáo...
và sự giao kết giữa hai bên. Ông Sáu Chỉnh sống
một cuộc đời phong lưu lượng mấy
mươi năm nhờ nghề làm biện trường
gà. Ông Sáu Chỉnh được những người
đá hàng xáo, những chủ gà tín nhiệm quyệt
đối v́ sự vô tư, minh bạch của ông. Ông
Cả Hiển giàu có, sống phong lưu nhân hậu. Các danh
sĩ khắp lục châu nghe nức tiếng đồn,
cũng tới thăm và được hậu đăi. Thi
sĩ Tản Đà, khi làm báo Hữu Thanh, An Nam Tạp Chí
thất bại ở Bắc Hà, vô Nam cùn kế sống. T́nh
cờ gặp ông Diệp Văn Kỳ, nghĩa tế
của ông Cả Hiển và được ông Kỳ rộng
răi tặng cho 1.000 đồng, đem về Bắc trả
nợ, rồi vô ở hẳn Sài g̣n để cộng tác
với tờ báo Đông Pháp của ông Kỳ. Nhờ ông
Kỳ giới thiệu, Tản Đà có dịp về Long
Xuyên, Chợ Mới, Chợ Thủ... Tại đây thi
sĩ núi Tản sông Đà có dịp thưởng thức
nhiều món ăn ngon dặc biệt của miền Nam,
như mắm ruột mà ông c̣n nhớ măi, ghi lại trong
thơ văn. (“Cà xứ Nghệ, mắm Long xuyên”)
Ông Cả Hiển từng là bạn của cụ Trà
Giang, phụ thân của ông Phan Văn Thiết. Nhờ
cụ Trà Giang (cũng quê ở Cao Lănh) giới thiệu, ông
Cả Hiển mới biết được Diệp
Văn Kỳ. Sau này nhờ ông Kỳ giới thiệu (ông
Kỳ là học tṛ của Nguyễn Sinh Huy khi c̣n ở
Huế) mà thân phụ ông Hồ Chí Minh tức Phó bảng
Nguyễn Sinh Huy, mới có dịp xuống sống ở
Cao Lănh một thời gian, rồi mất và được
chôn ở đó. Sau khi đậu Phó bảng, đồng
khoa với cụ Phan Chu Trinh, ông Huy được bổ
Tri huyện B́nh Khê. Trong lúc tại chức, ông Huy
thường say rượu, đánh chết người,
nên bị cách. Ông lang thang vào Sài g̣n, làm thầy thuốc và
thầy bói trước chợ Bến Thành. Ngày nào ông
cũng ngồi trước cửa Nam chờ đợi
khách tới xem mạch, hốt thuốc và mời về nhà
ăn cơm.
Có một lần, đợi măi tới chiều
tối, mà không có người tới xem mạch, mời
về đăi cơm, ông ta đói ră. May mắn, ông Diệp
Văn Kỳ ngồi xe hơi qua đó, nhận ra thầy
học cũ, mời về nhà đăi ngộ hậu hĩ,
rồi c̣n mời về Cao Lănh để nhạc nha cung
phụng đủ thứ. Trái với sự thêu dệt,
bịa đặt của các nhà viết sử Hà Nội,
cố t́nh mô tả ông Huy là một nhà “cách mạng kiên
cường, bất khuất chống lại thực dân
Pháp bị cách chức”, là cố t́nh nói sai sự thật.
Ông Bùi Tín dẫn lại lài liệu của nhà nghiên cứu
lịch sử Pháp Daniel Hémery, đăng trên tạp chí
“Approchesasie” cho biết:
Bi kịch gia đ́nh tác động mạnh mẽ
đến anh (Nguyễn Tất Thành). Ông Nguyễn Sinh Huy
vốn nghiện rượu nặng khi c̣n ở Huế. Bà
Thanh (chị ông Hồ) kể lại rằng hồi ấy
cứ lên cơn thèm rượu và say rượu, là bà
bị ông bố đánh bằng tay và bằng roi rất tàn
nhẫn. Tháng 5-1909, ông (Huy) được bổ đi Tri
huyện B́nh Khê B́nh Định khi 47 tuổi. Nửa năm
sau đó, tháng Giêng năm 1910, ông (Huy) bị thi hành kỷ
luật rất nặng, do đă đánh anh nông dân Tạ Đức
Quang bằng roi và gậy đến mức làm cho anh này
chết. Sở mật thám mở cuộc điều tra.
Vụ ngộ sát xảy ra khi ông Sắc (tức Huy) say
rượu. Hội đồng nhiếp chánh ở Huế
lúc ấy quyết định tước mọi chức
quyền Tri huyện của ông, và hạ xuống 4 bậc
trong ngành quan lại. Bi kịch này hết sức nặng
nề, làm đổ vỡ giấc mộng của ông Tri
huyện, bị thu hồi ấn tín. Ông đi dạy học
vài tháng rồi vào Lộc Ninh, đi làm “surveillant”, giám
thị ở đồn điền cao su, sống ngoài
lề bộ máy cai trị trong niềm lo âu, tủi
nhục và thiếu thốn. Ông đă đệ đơn
gởi Khâm sứ Trung Kỳ để xin việc, nói rơ ông
đang sống trong cảnh túng bần”.
Nguyễn Tất Thành (tức ông Hồ) vào tháng 12-1912,
gởi cho Khâm sứ Trung Kỳ bức thư, yêu cầu
thương hại đến hoàn cảnh túng bấn
của cha anh, và “xin Ngài Khâm Sứ” t́m cho một công
việc ǵ đó ở Huế cho cha anh, dù là Thừa
biện ở các bộ, hoặc làm giáo thụ cũng
được, với lời lẽ như sau:
“Tôi yêu cầu Ngài vui ḷng cho cha tôi được
nhận một công việc như Thừa biện ở các
bộ, hoặc là huấn đạo hay giáo thụ
để cha tôi sinh sống dưới sự quan tâm cao quư
của Ngài. Với hy vọng rằng ḷng tột của
Ngài sẽ không từ chối lời yêu cầu của
một người con, chỉ biết dựa vào Ngài
để làm nghĩa vụ của ḿnh. Xin Ngài Khâm sứ
nhận những lời chào kính cẩn của người
dân, con và kẻ tuỳ thuộc chịu ơn của Ngài”.
Phía dưới kư tên: “Paul Nguyễn Tất Thành”.
Diệp Văn Kỳ, nhân sỹ yêu
nước bị Việt Minh sát hại (1894-1945)
Trong bài này chúng tôi nhắc đến ông Diệp Văn
Kỳ trước ông Diệp Văn Cương, v́ mối
liên hệ gần gũi với ông Cả Hiển. Sách báo
cộng sản trong nước, kẻ thù của ông
Kỳ, đă thủ tiêu ông một cách dă man, mờ ám
chỉ v́ họ sợ uy tín của ông, đă đưa ra
một nhận xét về ông như sau: Con ông Diệp Văn
Cương là Diệp Văn Kỳ, danh sĩ cận
đại là bậc kỳ tài trong học giới. (“Từ
điển các nhân vật lịch sử” của Nguyễn
Q. Thắng, xuất bản năm 1992). Thừa
hưởng huyết thống và truyền thống của
cha mẹ, ông Diệp Văn Kỳ là người tánh t́nh
hào phóng. Giao thiệp với bạn bè, ông tỏ ra rộng
răi trong vấn đề tiền bạc. Đối
với nhân viên, cộng tác viên “Đông Pháp thời báo”, ông đều
trả lương hậu hĩ. Gần Tết ông c̣n
tặng thêm mỗi người một tháng lương
thứ 13! Sau khi tốt nghiệp trường
Chasseloup-Laubat, th́ cũng vừa đúng lúc thân phụ ông là
Diệp Văn Cương gặp phá sản trong việc
làm ăn. Biết rơ tài năng, đức độ ông
Kỳ, cụ Trà Giang, thân phụ ông Phan Văn Thiệt,
về sau làm lục sự, rồi trạng sư, giới
thiệu ông Kỳ với ông Cả Hiển. Cảm mến
người tuổi trẻ tài cao, ông Cả Hiển gả
con gái cho Diệp Văn Kỳ và chu cấp cho ông qua Pháp du
học, đậu Cử nhân Luật khoa. Thời gian
ở Pháp, ông Kỳ cũng tham gia các hoạt động
yêu nước, chống Pháp trong đảng Lập
hiến của Bùi Quang Chiêu, Dương Văn Giáo. Ông
Kỳ cùng với Nguyễn Thế Truyền in truyền
đơn, kêu gọi người Việt ở Pháp
biểu t́nh xin ân xá cho cụ Phan Bội Châu. Ông Kỳ
cũng là một trong những thành viên hoạt động
hăng hái cho tờ “Việt nam hồn “ của Nguyễn
Thế Truyền. Sau khi hồi hương, Diệp Văn
Kỳ làm luật sư ít lâu rồi bỏ nghề, sang làm
báo, cũng là do lời khuyên của cụ Trà Giang,
để có cơ hội tranh đấu, binh vực
đồng bào hữu hiệu hơn. Đầu tiên ông
Kỳ viết cho “Nam Trung Nhật Báo” và “Đông Pháp
thời báo” của Nguyễn Kim Đính. Ông Đính có
người con trai là Nguyễn Kim Lượng, tuy thuộc
gia đ́nh giàu có nhưng lại rất yêu nghề làm báo và
nguyện sống chết với nghề. Ông Lượng
về sau là một kư giả chuyên nghiệp, yêu nghề.
Về sau, ông Kỳ c̣n có tờ “Thần Chung” và mua lại
tờ “Đông Pháp thời báo” của Nguyễn Kim Đính.
Thời gian chủ trương “Đông Pháp thời báo”, ông
Kỳ có sáng kiến mời các nhà báo nổi tiếng
Bắc Hà như Tản Đà, Ngô Tất Tố vào Nam
hợp tác. “Đông Pháp thời báo” là tờ báo có khuynh
hướng chông đối chính phủ nhưng không gay
gắt lắm. Có giai thoại kể lại rằng:
Một buổi chiều, Diệp Văn Kỳ đang
ngồi uống nước phía trước nhà hàng
Continental với các đồng nghiệp, chợt thấy
thi sĩ Tản Đà vừa thả bách bộ ngang qua. Khi
người bạn ngồi kế bên, chỉ cho ông Kỳ
biết thi sĩ Tản Đà, ông liền bước ra,
lễ phép mời tiên sinh vào nhà hàng. Sau khi biết tiên sinh
Tản Đà vừa bị thất bại hai lần,
khiến hai tờ “Hữu Thanh” và “An Nam Tạp Chí” đóng
cửa, phải vào Nam t́m việc. Ông Kỳ liền
xuất 1.000 đồng tặng Tản Đà để ông
đem về Bắc trả nợ, rồi vào Nam cộng
tác với tờ “Đông Pháp thời báo” của ông. Có
một lần, báo sắp lên khuôn, nhưng chưa có thơ
của Tản Đà gởi tới. Ông Kỳ sai
người lên tận nhà trọ của Tản Đà
ở Xóm Gà Gia Định lấy bài. Thi sĩ bực
bội nói với người ấy:
Về nói lại với ông Kỳ: “ Mần thơ
chớ có phải bửa củi đâu mà lúc nào cũng
mần được!”
Một lần khác, nhân dịp Tết, ông Kỳ
tặng cho mỗi nhân viên báo thông Pháp thời báo” mỗi
người 200 đồng ăn Tết. (Lúc đó vàng vào
khoảng 30 đồng/lượng). Có tiền, thi sĩ
Tản Đà thích chơi ngông: mướn chiếc xe du
lịch Delahay, sang nhứt lúc đó để chở ông
dạo khắp Sài g̣n, Chợ Lớn, v́ ông c̣n
được ông Kỳ tặng riêng thêm 5 đồng
bạc nữa. Ông để 3 đồng ra bưu
điện mua chi phiếu gởi về Bắc cho bạn
là Ngô Tất Tố. C̣n hai đồng, ông định
trả tiền thuê xe và mần ông bạn thơ là Tùng Lâm Lê
Cương Phụng mua rượu, thịt gà về
nhậu đón giao thừa. Ông Tùng Lâm đi mua rượu,
thịt. Trên đường về, gặp một toán
đánh bài giữa đường, đánh lộn. Cụ
Tùng Lâm đứng lại coi và bị nạn. Hai toán
đánh lộn bị linh bắt đem về bót giam, trong
đó có Tùng Lâm. Dù biện hộ rằng ḿnh chỉ là
kẻ bàng quan, đi mua rượu họ cũng không tha.
Tại chỗ tạm giam, cụ Tùng Lâm một ḿnh lấy
rượu thịt, ăn nhậu đền say mèm, quên
hẳn ông bạn thơ Tản Đà. Ở nhà, Tản
Đà đợi cho đến giao thừa, không thấy
bạn về, cũng buồn t́nh, lốc cạn một
bầu rượu, rồi ngủ như chết tới
sáng mùng Một. Khoảng 11 giờ sáng mùng Một Tết,
lính gọi cụ Tùng Lâm dậy để tha, v́ ông Diệp
Văn Kỳ hay tin cụ bị bắt, liền tới
nơi, xin bảo lănh đường về đối
ẩm đón Xuân với thi sĩ tản Đà. Tờ
“Đông Pháp Thời Báo” tới năm 1928 th́ đ́nh
bản. Diệp Văn Kỳ cùng với giáo sư
Nguyễn Văn Bá lập tờ “Thần Chung”. Tờ báo
này biểu lộ ư chí quốc gia, dân tộc nhiều
nhứt và rơ rệt nhứt. Do đó thực dân Pháp rất
khó chịu và gây khó dễ cho họ. Kư giả Tế Xuyên
nhắc đền tờ “Thần Chung” như sau: Tờ
Thần Chung của Diệp Văn Kỳ không sống dai,
tuy nhiên được tổ chức châu đáo. Bộ biên
tập gồm những người có năng lực, phân
công rơ rệt, với nhiều cộng sự viên xứng
đáng và một ban giám đốc có tinh thần khoa
học, trong khi các tờ báo khác c̣n trong t́nh trạng
luộm thuộm, tiểu công nghệ và chỉ huy theo tinh
thần gia đ́nh”. (Lịch sử báo chí Việt nam”
của Huỳnh Văn Ṭng, trang 150).
Năm 1936, ông Diệp tích cực tham gia phong trào
“Đông Dương Đại Hội” với nhóm La Lutte.
Chỉ mấy tháng sau, phong trào bị Pháp trở mặt,
đàn áp. Ông Kỳ bị lùng bắt phải lẩn
trốn nhiều nơi. Phần này xin xem thêm chi tiết
nơi bài “Phong Trào Đông Dương đại hội
năm 1935 tại Nam Kỳ”, cùng tác giả. Ở đây
chúng tôi nhắc qua việc ông Kỳ bị thực dân
bắt giao trả về nguyên quán ở Huế như sau:
“Nhờ anh em cho hay sớm, Diệp Văn Kỳ xuống
Mỹ Tho tạm trú tại nhà một người bạn,
chính bà Diệp Văn Kỳ cũng không biết chỗ
ở. Tôi (kư giả Nam Đ́nh) được anh em phú thác
công việc hên lạc giữa bà Kỳ và nơi ông
trốn. Bà Kỳ gởi quần áo và đồ đạc
để tôi đưa lại ông Kỳ tạm dùng trong lúc
trốn tránh mật thám Pháp. Anh em nghĩ rằng không
thể giấu ông Kỳ lâu một chỗ măi
được, phải t́m cách đưa ông Kỳ đi
nơi khác... nên tổ chức mướn “xe lô”, và may cho
Diệp Văn Kỳ một bộ đồ “Đức
Cha”.
“Xe lô” đưa Diệp Văn Kỳ và các bạn
từ Mỹ Tho về Chợ Lớn, rồi từ
Chợ Lớn qua Bà Chiểu. Anh em hướng dẫn
sôp-phơ đi đường Lăng Cha Cả cho kín
đáo hơn. Nhưng... khi xe lô đền Lăng Cha
Cả, th́ “ăn banh” (en cas de pan). Anh em vô t́nh, không nghĩ
rằng anh sốp-phơ xe lô phản bội, giả đ̣
“xe ăn banh” nằm giữa đường, đặng
anh quay về Chợ Lớn, mật báo với tụi lính
kín Pháp. Sôp-phơ bán Diệp Văn Kỳ cho mật thám
Chợ Lớn. Thế là Diệp Văn Kỳ bị
bắt khi xe ra khỏi Lăng Cha Cả. C̣ Perrech
được khen ngợi. Diệp Văn Kỳ bị
trục xuất về nguyên quán ở Huế”.
Tháng Tám 1945, Việt Minh cướp chính quyền ở
Nam Bộ. Họ lùng sục t́m bắt những nhà ái
quốc có uy tín, khác chính kiến, nhóm Đệ tứ,
đảng Lập hiến để thủ tiêu. Lần
này ông Kỳ cũng giả làm thầy ḍng, trốn trong nhà
thờ Tràng Bàng, nhưng cũng bị Việt Minh phát giác,
rồi bắt dẫn đi, hạ sát trong đêm tối.
Khi ông Phó bảng Nguyễn Sinh Huy (c̣n có tên Sắc)
mất chức Tri huyện, lang bạt giang hồ vào Sài
g̣n, t́m kế sinh nhai, t́nh cờ gặp lại người
học tṛ mà ông đă dậy hồi 20 năm trước
ở Huế. Nhớ ân sư, người học tṛ có
nghĩa ấy là Diệp Văn Kỳ mới rước
ông thầy gặp bước gian truân về nhà nuôi
dưỡng. Sau đó, ông Kỳ mới đưa ông Phó
bảng về Cao Lănh, để chào nhạc gia là ông
điền chủ Lê Quang Hiển. Từ đó, thỉnh
thoảng ông Phó bảng lên xuống Sài g̣n, để
chơi với ông Diệp Văn Cương, sui gia của
ông Cả Hiển. Thương t́nh người thầy
học cũ của con, ông Diệp Văn Cương
nhiều lần giúp đỡ tiền bạc cho ông Phó
bảng. Tánh nào tật nấy, có tiền, rảnh rỗi,
ông Phó bảng lại say sưa như trước. Một
lần lên Sài g̣n, uống rượu say mèm, bất kể
trời đất, ông Phó bảng nằm lăn ra
đường, bị lính hành hung, nên la ó om ṣm. Nghe tin
ấy, ông Cương tới năn nỉ ông cũng không
tỉnh. Gặp lúc ông Cả Hiền lên Sài g̣n thăm con gái
và rể, thấy vậy liền kề tai nói nhỏ
với ông Phó bảng Huy:
- Ngày xưa Tôn Tẩn giả điên, ăn cứt mà
người ta c̣n biết, c̣n bây giờ ông có giả say,
nằm đây th́ thiên hạ cũng biết ông từng là
Phó bảng, Tri huyện bị cách.
Nghe xong, Phó bảng Huy đứng dậy đi về
nhà. Chính lúc đang sa cơ thất thế đó, cậu
Paul Nguyễn Tất Thành có mặt trong Nam. Cậu mới
viết thư khẩn thiết xin quan Khâm sứ Trung
kỳ rộng lượng kiếm cho cha cậu một
chân thừa biện, huấn đạo hay giáo thụ
để độ nhật. Lá đơn ấy không
được đáp ứng, làm cho cậu bồi tàu
Nguyễn Tất Thành có mối hận ḷng. Sau đó, khi qua
Pháp, cậu bồi tàu liền viết thư lạy
lục Tổng Thống Pháp cho ḿnh được
đặc cách vào học “Trường Thuộc
địa” để ra làm quan cho Pháp. Đơn xin lại
bị bác v́ tŕnh độ cậu quá kém. Hận ḷng
chồng chất, công danh bế tắc, cậu Nguyễn
Tất Thành bèn xoay sang hướng khác: hoạt động
chống Pháp và đi Liên xô để t́m “đường
cứu nước Liên xô”. Sau vụ đó, ông Phó bảng
Huy về Cao Lănh và ở trong chùa Hoà Long. Chùa đó,
người địa phương gọi là “miếu
trời sanh”. Lúc này ông sống về nghề hết
thuốc, giảng kinh sách, làm thầy bói. Có lúc ông lên núi
Thất Sơn để giảng kinh Phật cho các nhà
sư tu ẩn. Gặp vận bĩ, tới đâu cũng
không được ngưỡng mộ. Sau cùng, ông Phó
bảng về sống chung với một ông già độc
thân tại làng Hoà An (Cái Tôm) tên là Lê Văn Giáo. Ông Phó
bảng dạy ông Giáo làm thuốc tễ, thuốc tán
để độ nhật. Có lần, ông Phó bảng làm
đơn, tự ḿnh đến quận đường
Cao Lănh để xin ông chủ quận Lê Quang Tường
cho phép hành nghề đông y. Đợi lâu, không những
không được tiếp mà ông Phó bảng c̣n bị lính
xua đuổi bực ḿnh bỏ về.
Tháng 11 năm 1929, ông Phó bảng Nguyễn Sinh Huy bị
bịnh và mất. Thương người tha phương
lỡ vận, các thân hào nhân sĩ Cao Lănh chung góp tiền
bạc để mai táng ông Huy: ông Hội đồng
Nguyễn Thành Vị tặng cho một quan tài, ông Cả
Hiền, ông Nguyễn Văn Sanh ở Hoà An lo chôn cất
cạnh “Miếu trời sanh”. Mấy năm sau,
người con gái ông Phó bảng hay tin, lặn lội t́m
tới nơi, làm lễ thành phục, thọ tang.
Người đó là bà Nguyễn Thị Thanh, chị ông
Hồ Chí Minh sau này. C̣n ông Hồ, từ ngày đi biệt
tích giang hồ mà các sử gia Hà Nội gọi là “Bác Hồ
đi t́m đường cứu nước... Pháp” th́ không
bao giờ trở lại thăm mộ cha một lần!
Những phú hộ
và nhân vật nổi danh ở Bến Tre
Tỉnh Bến Tre gồm 3 cù lao lớn: Cù
lao Minh, cù lao Bảo, cù lao An Hoá.
Làng Đại Điền nằm trên cù lao
Minh, là nơi đất đai trù phú, nước ngọt
quanh năm, ruộng vườn tươi tốt.
Quận Mỏ Cày là quê hương của nhiều nhà giàu
thuở xưa của Nam Kỳ. Những người
được gia đ́nh cho qua Pháp du học đợt
đầu tiên là các ông Bùi Quang
Chiêu, Dương Văn Giáo, Dương Văn Tây.
Thuộc hàng cự phú Đại Điền người
ta thường kể ông Hương
Liêm (Huỳnh Ngọc Khiêm), ông Phủ Kiểng (Nguyễn
Duy H́nh), ông Hội đồng Hoài, dân địa
phương quen gọi ông Phó Hoài v́ trước ông có làm Phó
Tổng. Không rơ làng Đa Phước cuối thế
kỷ 19 và Đại Điền đầu thế kỷ
20, là cuộc đất có hàm rồng hay long mạch mà phát
sinh nhiều nhà giàu lớn, con cháu đỗ đại, rân
rất nhiều thế hệ.
Theo lời thân mẫu nhà văn Xuân Vũ,
là người cố cựu tại địa
phương, năm nay 87 tuổi, c̣n minh mẫn, kể
lại nhiều chi tiết về nguồn gốc sự
giàu có của các gia đ́nh kể trên.
Dương
Văn Giáo thuở nhỏ học
trường Chasseloup, rồi gặp thế chiến
thứ nhứt xảy ra (1914- 1918), mới xin làm thông ngôn
cho toán lính thợ qua Âu Châu chiến đấu, tiếp liệu
cho mặt trận của Pháp chống Đức. Qua Pháp,
ông Giáo được thăng cấp trung uư, có chiến
công được nhiều huy chương của Pháp.
Chiến tranh chấm dứt, ông xin ở lại, theo
học trường thuộc địa (École Coloniale) ngành
Luật. Tốt nghiệp, ông Giáo được bổ làm
trạng sư, nhập Pháp tịch, lại gia nhập
hội Nhân Quyền, cho nên dầu phải đi bộ
chớ không bao giờ ngồi xe kéo (v́ luật Nhân Quyền
không cho phép). Ông Giáo có người anh tên Tây, v́ lúc nhỏ ông
Giáo c̣n có tên Du (Tây Du). Ở Pháp, luật sư Giáo có vợ
đầm, nhưng là người tích cực tranh
đấu cho nền độc lập nước nhà. Lúc
ở Pháp, Giáo là bạn đồng học với ông Nehru
(Thủ tướng Ấn Độ sau này) và Hoàng thân Thái
Lan Luang Pradit, về sau làm Bộ trưởng trong nội
các Thái năm 1945. Ông Nehru từng ngỏ lời muốn
gả em gái cho Dương Văn Giáo nhưng v́ ông Giáo
đă có vợ. Ông Dương Văn Giáo sinh năm 1888
tại Đa Phước Mỏ Cày, đậu Tiến
sĩ Luật năm 1926, từng tranh đấu với các
ông Bùi Quang Chiêu, Diệp Văn Kỳ, Nguyễn Thế
Truyền, Nguyễn An Ninh chống lại chế
độ cai trị tàn ác của người Pháp tại
Đông Dương. Ông Dương Văn Giáo cũng là
một trong những người sáng lập đảng
Lập hiến với Bùi Quang Chiêu, Trần Văn Khá...
Tại Pháp nhiều lần ông Dương
Văn Giáo cùng với ông Nguyễn Thế Truyền đi
diễn thuyết nhiều nơi, hô hào, cổ vơ cho tự
do dân chủ ở Việt nam, băi bỏ chế độ
thuộc địa. Về Sài g̣n, luật sư
Dương Văn Giáo tiếp tục tranh đấu
chống chế độ thực dân bằng cách viết
báo chí trích đường lối cai trị độc tài,
thiếu tự do của Pháp, nên bị bắt cầm tù
như Tạ Thu Thâu.
Về sau, ông Giáo bỏ vợ đầm
kết hôn với con gái bà Huyện Xây (Lâm Ngọc Thanh)
ở Vũng Liêm. Cô này tên “cô Hai Suzane”, và được
nhạc mẫu mua cho một biệt thự lớn như
lâu đài ở đường Paul Blanchy (Hai Bà Trưng sau
này).
Về việc ông Dương Văn Giáo
vượt ngục, cụ Trần Văn Ân thuật
lại như sau: ông Giáo có đời tư rất cẩu
thả, song vào tù lại có khí phách và ḷng thương
bạn. Lúc ấy luật sư Giáo bị kêu án 8 năm
khổ sai, nhưng một gián điệp Nhựt, chủ
Dainam Koosi Matushista, tổ chức cho một phụ nữ
Nhựt tên Sinna (người t́nh của ông Giáo) lập kế
cứu ông ta ra khỏi khám. Nguyên ông Giáo giả bịnh, xin
nằm dưỡng đường Grall. Trong khi chờ
đợi mổ, có một thiếu nữ Nhựt (Sinna)
vào xin cho ông Giáo từ pḥng bịnh qua pḥng mổ. Nhưng
sau đó, khi cô y tá và người lính (dẫn ông Giáo)
đứng đợi bên ngoài một chút, th́ thấy có
một sĩ quan Nhựt, mang lon Đại uư, đeo kính
mát, đầu đội mũ che sụp mí tóc, thong
thả bước ra. Người lính đứng chào, và
ông sĩ quan này xuống đường chen ra phía cửa
sau nhà thương có chiếc xe bít-bùng đợi sẵn.
Khi người lính và cô y tá bên ngoài chờ lâu, xô cửa
bước vô, th́ thấy ông Giáo để bộ quần
áo cũ tại đó, và biết ràng vị quan ba Nhật
hồi năy chính là ông Giáo.
Ông Giáo được Nhựt bố trí lên
máy bay tại Tân Sơn Nhất để qua Thái Lan,
được bạn cũ là Hoàng thân Luang Pradit tiếp
đón niềm nở. Năm 1945, ông Giáo cùng nhiều
người yêu nước khác bị Việt Minh thủ
tiêu bằng cách trấn nước tại Sông Ḷng Sông Phan
Thiết”.
Trở lại những cự phú làng
Đại Điền ở Bến Tre. Trước khi có
cuộc chiến tranh Việt Pháp 1945-54, những ai có
dịp ngồi xe trên đường trải đá từ
Cái Nhúm, Cái Mơn, Mỏ Cày ra tới bến Bắc Hàm
Luông, chắc sẽ lấy làm ngạc nhiên v́ ở đây
có nhiều ngôi nhà lầu nhà trệt đồ sộ,
cất trên nền đúc cao tới ngực, chẳng khác
dinh Tham biện (Tỉnh trưởng) hay toà Đốc lư
các thành phố lớn. Người giàu nhứt ở
đây là ông Hương Liêm,
tên thật Huỳnh Ngọc Khiêm. Theo lời kể th́
hồi nhỏ, gia đ́nh Hương Liêm sống nghèo
khổ, làm lụng vất vả hàng ngày nhưng không
đủ ăn. Thân phụ ông Liêm là người tính t́nh
cần mẫn, lam lũ nhưng biết tiện cặn,
lại siêng năng. Những thập niên cuối thế
kỷ 19, làng Đại Điền c̣n nhiều ruộng
đất hoang, nhiều g̣ đống, cây cối um tùm.
Dưới con mắt của người
dân quê, những chỗ đó có nhiều ma quái Đêm đêm
những bóng ma chập chờn, ít ai dám cất nhà chỗ xa
xôi vắng vẻ, chỉ trừ những người quá
nghèo, liều mạng. Dịp may một gia đ́nh phú
hộ, muốn bán một trong những miếng đất
hoang đầy yêu ma phá khuấy đó với giá rẻ
mạt. Ông Liêm t́m tới mua chịu, chỉ trả một
số tiền nhỏ, nhưng chủ đất vui vẻ
bán và c̣n nói với người trong nhà:
- Thằng cha Liêm này muốn chết thay cho
ḿnh.
Cất nhà xong, đêm đêm ông Liêm
thường thấy có hai con quỷ bưng chảo
lửa trước sân mấy dân, nhưng ông không sợ.
Không ngờ rằng đó là một cuộc đất quư,
một loại quư điền. Mấy năm liền, ông
Liêm làm ruộng trúng mùa liên tiếp. Người ở trong
đất này làm ăn phát đạt như diều
gặp gió. Có tiền, ông Liêm mua thêm ruộng đất, làm
ăn gặp may mắn luôn, không bị ma quỷ như
lời đồn.
Người đ̣i thường nói: “Ai giàu
ba họ, ai khó ba đời”. Gia đ́nh ông Hương Liêm
vượt ra ngoài thông lệ đó. Con cháu ông vẫn
giữ các chức Hội đồng, Cai tổng, Tri
huyện cha truyền con nối đến 4 thế hệ,
vẫn c̣n rân rát. Nếu không có Việt Minh nổi dậy,
cướp chính quyền, tiêu diệt các thành phần
đại điền chủ, chắc chắn bây giờ
ḍng họ ấy vẫn c̣n nhiều người giàu có,
thế lực. Vốn tánh kiệm ước, giàu nhưng
không khoe khoang, xài phí, ăn chơi xa xỉ, ông Hương
Liêm sống rất giản dị. Nhà của ông là loại
nhà tiêu biểu cho thế hệ giao thời cuối thế
kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Đó là một
căn nhà lớn, gồm 48 cột bằng căm xe, đen
mun, bóng láng. Mỗi cây cột một người ôm không
xuể. Nguyên bộ sườn nhà không dùng một cây
đinh. Năm 1945, Việt Minh ra lịnh “tiêu thổ kháng
chiến”, chúng buộc phải dỡ mái nhà, đồ
đạc th́ tản cư, nhưng chưa kịp
đốt. Nếu c̣n nguyên vẹn, ngày nay ngôi nhà của ông
Hương Liêm có thể coi như một công tŕnh kiến
trúc độc đáo của Nam Kỳ thuở
trước.
Ông Hương Liêm có nhiều người
con, nhưng chúng tôi không nhớ rơ có bao nhiêu. Chỉ biết
ông có hai người con đều làm Hội đồng.
Người thứ nhứt là Hội đồng Hổ,
không con. Người thứ hai là Hội đồng
Cử. Về sau, một người con của Hội
đồng Cử làm Cai tổng, dân dịa phương
quen gọi là Cao tổng Thiến. Về phần con gái,
chỉ nhớ có hai bà: bà thứ 10 gọi là Mười
Tán, có chồng làm Thông biện ở Bến Tre. Bà kế là
Nhứt Thịnh, có chồng là Cai tổng Trị, sanh
được hai người con là Hai Xiêm và Ba Tây.
Trong số các con ông Hương Liêm, có
người làm sui với ông Phủ Bảy Lê Quang Liêm
ở G̣ Công.
Một người giàu có nổi tiếng
khác ở làng Đại Điền là ông Hội đồng Hoài, dân chúng quen gọi ông Phó
Hoài, v́ trước khi làm Hội đồng, ông có làm Phó
tổng. Ông Hội đồng Hoài nổi tiếng hống
hách, ai cũng sợ như ông vua một cơi. Ông coi dân chúng
trong làng như tôi tớ, kẻ ăn người ở
trong nhà, muốn bắt ai làm ǵ cũng được, không
ai dám lừ chối, trốn tránh hay chống đối. Câu
“phép vua thua lệ làng” ở đây chưa đúng nghĩa
v́ làng xă cũng phải sợ ông. Ông làm Phó tổng, trên
làng. Về sau, ông làm Hội đồng coi như cha mẹ
cả quận. Nhà ông Hội đồng Hoài, chỉ cách nhà
của nhà văn Xuân Vũ một cánh đồng. Ngói
lợp nhà của ông sau 15 năm vẫn c̣n đỏ au
như mới. Ở xa nh́n thấy toàn thể ngôi nhà,
lẫm lúa, tường cao, hàng rào sắt như một dinh
co đồ sộ trong truyện thần tiên. Dân Bến Tre
và dân chúng sống hai bên bờ sông Tiền Giang như
Mỹ Tho, Vĩnh Long, Trà Vinh, đâu dâu cũng nghe tiếng
ông. Không ai dám nói đến tên ông là “Hoài”. Mỗi khi cần
nhắc đến chữ ấy, người ta phải
nói trại ra như sau:
- Đi đâu mà đi “hười” vậy?
- Sao cứ ăn “hười”, không chịu
làm?
Có một giai thoại kể lại
rằng, để dằn mặt ông Hội đồng
phách lối, có một vơ sư, giả làm người không
biết uy quyền của ông, t́m cách gây sự, nếu
cần, đánh một trận cho bơ ghét. Theo người
hiểu chuyện kể lại rằng ông vơ sư ấy
là người Tàu lai, thuộc hàng cháu chắt của hai
tướng Tàu là Tập Đ́nh và Lư Tài của chúa
Nguyễn Ánh. Trước kia họ là tướng của
quân Tây Sơn. Một hôm vơ sư ấy cỡi ngựa
đi ngang qua trước nhà ông Hội đồng Hoài. Cái
lục lạc đeo ở cổ con ngựa cứ lắc
lia, kêu lớn như khiêu khích. Mấy đứa gia nhân
đều chạy ra đường coi ai dám cả gan trêu
chọc ông Phó. Một đứa hất hàm hỏi:
- Bộ không biết đây là nhà của ai
sao? Tại sao không xuống ngựa, lại làm cái lục
lạc kêu lớn không để ông ngủ?
- Bẩm, tôi không biết. - Vơ sư trả
lời.
- Ừ! Để tôi vô mời ông tôi ra cho
biết.
Nói xong tên đầy tớ liền chạy
vô nhà thưa lại. Ông Hội đồng Hoài ung dung, hách
dịch bước ra hỏi:
- Ê! Tên kia, làm ǵ lắc cái lục lạc kêu
lớn quá vậy, không để ai ngủ hả?
- Dạ, tôi đâu biết. Đây là
đường đi, tôi cứ đi. C̣n con ngựa tôi
lắc cái lục lạc là tại nó,chớ đâu phải
tại tôi.
Thấy cách trả lời cứng cỏi,
không khép nép sợ sệt, Hội đồng Hoài tức
giận:
- Xuống đây biểu?
Như chỉ đợi dịp này, ông vơ
sư nhảy thóc xuống ngựa, tiến tới ông
Hội đồng Hoài không chút khúm núm, lo sợ. Đang
cơn nóng giận, ông Hội đồng Hoài liền tát
người ấy một bạt tay. Không ngờ, vơ sư
né qua một bên, mà c̣n sử dụng miếng vơ độc
hiểm, quật ông Hội đồng té nhào. Biết
gặp phải tên có vơ nghệ cao cường, Hội đồng
Hoài vẫn c̣n giữ chút liêm sỉ của người có
học vơ, chấp tay xá:
- Tôi xin
chịu thua ông. Xin mời ông vào nhà để tôi tạ
lỗi, và nhờ ông chỉ dạy thêm cho tôi.
- Vơ
sư ấy vội vàng lên ngựa, miệng c̣n lẩm
bẩm:
- Ai thèm dạy thứ phách lối như
mày.
Một giai thoại khác cũng
được dân chúng truyền tụng với sự khoái
chí v́ đă làm mất mặt ông Hội đồng Hoài.
Số là một ông cũng giỏi vơ, mai danh ẩn tích
từ lâu, chỉ làm ruộng rẫy, tên là Ba Khoan, dân
Mỏ Cày ai ai cũng nghe tiếng. Một người
bạn của Ba Khoan, ở cách nhà của Hội
đồng Hoài một cánh đồng, có tát đ́a, bắt
được 2 con cua đinh, nhắn ông Ba Khoan xuống,
tặng một con đem về nhậu chơi. Được
tin đó, Ba Khoan xuống chơi và khi về có quải theo
một con cua đinh ṭn ten, mục đích để
bọn gia nô của ông Hội đồng Hoài thấy,
đ̣i tịch thâu. Ba Khoan dùng một tàu dừa lớn,
chặt làm đ̣n gánh để quải một đầu,
tay vịn một đầu. Khi Ba Khoan đi ngang nhà ông
Hội đồng Hoài, bọn gia nhân thấy, liền kêu
lại và nói:
-Lâu nay
ông tôi thèm cua đinh. Chú để con cua đinh này cho ông tôi
nhậu chơi, được không?
-Cua
đinh của tôi, tại sao phải để cho ông
nhậu?
-Chú
ở đâu, không biết ông tôi à?
-Tôi quê
mùa, không biết?
Nghe tiếng căi cọ ngoài cửa, ông
Hội đồng Hoài bước ra, tự tiện gỡ
con cua đinh của Ba Khoan, mà không nói năng ǵ cả.
Bất thần, Ba Khoan dùng tàu dừa
ấy, đánh bọn gia nô chạy tán loạn. Hội
đồng Hoài bị một đá văng xuống
mương, ướt như chuột lột. Xấu hổ,
thầy tṛ ông Hội đồng Hoài bỏ vô nhà một
nước, không nh́n lại. Theo lời dân chúng địa
phương, từ đó ông Hội đồng Hoài bớt
hống hách.
Ông
Phủ Kiểng là
một cự phú khác ở Giồng Luông, quận Mỏ Cày.
Các con ông đều học tới nơi tới chốn.
Nhiều người ra làm quan với chính phủ Pháp, và có
một người khác làm bí thơ cho Hoàng đế
Bảo Đại. Ông Phủ Kiểng là nhà giàu lớn,
tiếng tăm khắp Nam Kỳ, ai ai cũng nghe danh. Dân
chúng địa phương chỉ biết ông là “Phủ
Kiểng” chớ ít ai biết tên thật của ông là Nguyễn Duy Hinh (1874-1945). Theo
tài liệu do phủ Toàn quyền Đông Dương ở
Hà Nội ấn hành năm 1943, do Tiến sĩ Sử
học Vũ Ngự Chiêu cho mượn th́: “Ông Nguyễn
Duy Hinh sinh năm 1874 tại làng Đại Điền,
Mỏ Cày, Bến Tre. Lúc trẻ làm Biện lại (1893),
rồi Phó thôn (1894), Hương thơ (1895), Hương
Văn (1896-97), Biện tống (1898), Xă trưởng
(1901-1902), Hương chánh (1903), Hương sư (1904), Bang
biện (1904-1913), Cai tống (1913 - 1916). Ông được
thăng Huyện hàm năm 1923, rồi Phủ hàm 1930 và
Đốc phủ sứ năm 1939. Ngoài một số huy
chương được Pháp ban tặng, ông Phủ
Kiểng có một Bắc Đẩu Bội tinh. Năm
1942, ông Phủ Kiểng là người rất trung thành
với chính phủ Pháp, được qua Pháp du lịch
một lần.
Nguồn gốc giàu có của ông Phủ
Kiểng theo lời thuật của thân mẫu nhà văn
Xuân Vũ như sau:
Thuở hàn vi, cậu Nguyễn Duy Hinh sinh
trong một gia đ́nh nghèo. Cha mẹ cậu làm lụng
đầu tắt mặt tối nhưng không đủ
ăn. Hàng ngày, cậu Hinh phải phụ cha mẹ trong
việc ruộng rẫy. Ngoài ra, cậu c̣n làm mướn
cho cho các gia đ́nh khá giả để kiếm thêm
tiền giúp đỡ cha mẹ. Hồi trước, khi cho
con đi ở đợ (làm mướn), cha mẹ
được lănh tiền trước. Khi tới tuổi
lấy vợ, cha mẹ cậu Hinh cất một nhà
nhỏ cho vợ chồng ở riêng. Cũng như
nhiều lực điền khác, ngoài công việc làm
ruộng, cha cậu Hinh c̣n đặt ḷ, đặt trùm,
cắm câu để kiếm ăn. Một hôm, cha cậu
đặt ḷ (dụng cụ bắt cá) ở Cái Răng, có
bắt được một con rắn hổ. Trong lúc lui
cui bắt con rắn ra khỏi lờ, không may, cha cậu
bị con rắn hổ mổ chết. Nhà nghèo quá, không có
ḥm để tẩm liệm, nên người lối xóm
tới phụ bó chiếu đem chôn. Đám ma chỉ có mấy
người đưa đến huyệt. Đi
được nửa đường, cái thây ma bó
chiếu bị đứt dây rớt xuống ruộng.
Thấy vậy, họ đào luôn cái huyệt rồi chôn
tại đó. Đây là một điều ngoại lệ
từ xưa tới nay rất kiêng cữ, nhứt là các gia
đ́nh khá giả, không bao giờ làm như vậy. Đào
huyệt xong phải chôn, chớ không được bỏ
trống để đào cái khác. Nhưng gia đ́nh quá
nghèo, không cần kiêng cử cho mất công. Không ngờ,
đêm ấy trời mưa giông dữ dội. Sáng ra,
người ta thấy chỗ cái mả mới chôn, đùn
lên một g̣ mối lớn như cái núm mộ. Về sau theo
một ông thầy địa lư Tàu, đây là ngôi mộ thiên
táng, dành cho người phước đức. Ai có hài
cốt cha mẹ táng vào đó con cái sẽ phát quan, giàu sang
tột bực. Quả nhiên, từ đó bà mẹ ông Hinh
giàu có nhờ làm ruộng trúng mùa liên tiếp. Ông Hinh mua thêm
ruộng đất, phát tài, lên như diều gặp gió.
Đồng thời ông được bổ làm Biện
lại khi tuổi vừa 19. Khi đă giàu có, nhà ông Phủ
Kiểng là nơi các Tham biện, Chủ tỉnh, Thống
đốc, Hội đồng... tới lui, tiệc tùng
liên miên.
Theo lời nhà văn Xuân Vũ, nhà ông
Phủ Kiểng như dinh Tham biện (Tỉnh
trưởng), c̣n khang trang hơn, cao 3 từng, nằm trên
một khu đất rộng tới 6.000 m2, cạnh con
đường cái. Quanh nhà có tường gạch kiên
cố như bức thành. Trước sân nhà, có những
cột đèn ốp đá cẩm thạch, cùng nhiều
h́nh tượng và phù điêu đắp nổi. Tại
tiền sảnh là nơi đăi tiệc tùng các quan khách
từ Sài g̣n xuống hay các chủ tỉnh, chủ quận
các tỉnh lân cận. Nhà cất trên một nền đúc
cao tới cổ, cẩn đá da quy. Ngói lợp mua từ
bên Tây chở về. Cột gỗ bằng cây căm xe, mua
từ bên Miên, rồi đóng bè thả trôi theo sông Cửu
Long chở về. Trên bè có cất nhà cḥi để bạn
chèo ăn ngủ. Mỗi khi bè cây sắp đi ngang qua
những hàng cột đáy, tức th́ bạn chèo trên bè
đánh mơ hồi một, tức là báo động,
để chủ kéo đáy lên, tránh vô bờ. Trong nhà bàn
ghế bằng cẩm thạch Vân Nam, chén đă mua từ
bên Tây hay đồ sứ của Trung Hoa. Cất nhà xong, ông
rước thợ chạm từ miền Trung vào ăn
ở luôn trong nhà mấy năm liền, để chạm
trổ sa lông, trường kỷ, tủ thờ.
Cũng theo lời nhà văn Xuân Vũ,
mấy đầu cột nhà ông Phủ Kiểng có dát vàng 2
tấc, sáng loáng. T́nh cờ tôi có gặp người
bạn là giáo sư Nguyễn Quỳnh, dạy môn lịch
sử kiến trúc và thẩm mỹ học tại
Đại học Columbia, New York và San Antonio, có đọc
đến đây và cắt nghĩa cho chúng tôi rơ thêm: Các
đầu cội chạm trổ và dát vàng theo lối Ionic,
Emprie... xuất hiện và thịnh hành ở Âu Châu vào
cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Ông
Kiểng có đi Tây mua ngói lợp nhà, đồ gia
dụng, chắc ông bắt chước một trong các
kiểu ấy, đầu cột dát vàng khi cất nhà. Trong
thời kỳ Việt Minh ra lệnh tiêu thổ kháng chiến,
phải dùng cốt ḿn mới phá sập, nhưng chỉ
được một phần. Ông phủ Kiểng có
cả thảy trên 10 người con, cả trai lẫn gái.
Tất cả đều được cho ăn học
cao. Nhiều người đỗ đạt, giữ
địa vị lớn. Trong số mấy người
con, người ta chỉ nghe danh các ông.
Con thứ ba, c̣n gọi là cậu Ba Oai,
được cho qua Pháp du học, không đỗ
đạt ǵ nhưng được tiếng là công tử
ăn chơi, coi tiền như rác. Khi về nước,
cậu Ba Oai có dẫn theo người vợ đầm.
Vẫn theo tin đồn của người địa
phương, khi về làm dâu nhà ông Phủ Kiểng, cô
đầm ấy không ăn mắm kho được, và
hàng ngày phải xắc chuối cho heo ăn. Chán nản
trước cảnh sống của đại gia đ́nh
như vậy cô vợ đầm của cậu Ba Oai xin
về xứ. C̣n cậu Ba Oai, từ ngày du học trở
về, thường gọi cha là “Me xừ Kiểng”
mỗi câu nhắc đến ông như phong tục Tây
phương. V́ lẽ đó, trong các cuộc hội hè
đ́nh đám ở Mỏ Cày, nhiều người học
chữ Nho, có chức phận trong làng, thường bàn tán
với nhau:
- Ê? Có con đừng cho đi Tây học làm
ǵ!
- Tại sao vậy? Một ông hỏi.
- Cho nó qua Tây du học, lúc về nhà nó kêu tên
cha mỗi khi nói chuyện như cậu Ba Oai kêu ông Phủ
Kiểng bằng “Me xừ Kiểng”. (Monsieur Kiểng)
Người con thứ sáu của ông Phủ
Kiểng tên Nguyễn Duy Quang. Ông Quang sinh năm 1906 tại
Đại Điền, được du học bên Pháp,
tại trường Cao đẳng Thương Mại.
Năm 1935, ông Quang về Huế làm Chánh văn pḥng cho Hoàng
đế Bảo Đại. Ông Quang là người
được Hoàng đế tin cậy, cho tháp tùng vua và
Hoàng gia sang Pháp 1939. Lúc trở về Nguyễn Duy Quang
được cử làm Bố chánh tỉnh Thanh Hoá.
Cũng như cha, ông Quang rất thân Pháp và được
Pháp tặng thưởng nhiều huy chương. Ông Quang
c̣n hai người anh là Nguyễn Duy Trinh, Nguyễn Duy Tiên,
cũng có chức phận, nhưng không tài liệu nào nói rơ.
Con thứ chín là thầy Cai Tâm, một
mẫu người đặc biệt, được dân
chúng rất kính trọng. Tuy sống trên nhung lụa,
hấp thụ văn hoá Pháp, nhưng thầy Cai Tâm chỉ
muốn làm một chức vụ tượng trưng: Cai
tổng. So với tài học và quyền thế của gia
đ́nh, nếu thầy Cai Tâm muốn làm Huyện hay
Phủ cũng dễ như trở bàn tay. Tới lui ở
công sở làng, hay dự những đám tiệc, thầy
Cai Tâm thường nghe những lời x́ xầm, bàn tán,
gièm pha về những việc làm của thân phụ, nên ông
sẵn sàng nhận làm Cai tổng như một cử
chỉ thay cha, gián tiếp nhận lỗi và làm dịu
bớt những ḷi đồn xấu về cha của ḿnh.
Có lẽ cây đắng sanh trái ngọt. Trọng nghĩa
khinh tài thầy Cai Tâm tuy giàu nhưng có ḷng nhân, thích làm
việc thiện. Ai có việc tang chế, túng thiếu,
cứ đến tŕnh bày với thầy sẽ
được giúp đỡ tận t́nh. Thầy Cai Tâm c̣n
xuất tiền riêng để lập nhà bảo sanh,
mở thêm trường học ở quận, để con
cháu tá điền có chỗ ăn học.
Nhà văn Xuân Vũ đă viết về
thầy Cai Tâm như sau:
“Tuy không theo đạo nào, nhưng cậu
cúng đất cúng điền cho Thánh thất Cao Đài, cho
nhà thờ Thiên Chúa và cho Tin Lành. Những công việc từ
thiện đều được cậu hoan nghinh và giúp
đỡ dễ dàng. Về tư cách của cậu
cũng không có chỗ nào chê trách được. Cậu
cưới vợ đàng hoàng. Không mèo chuột, vợ bé
vợ mọn. Cậu xử kiện rất phân minh và không
ăn hối lộ. Tiếng thanh liêm của thầy Cai Tâm
bay khắp một vùng. Mấy vị hương chức
lem nhem rất sợ thầy Cai Tâm. Năm 1944-1945, khi nghe
tin nạn đói hoành hành ở Bắc Kỳ, thầy Cai
Tâm đă tặng 1000 giạ lúa để chở ra ngoài
Bắc cứu trợ. Thế nhưng khi Việt Minh
cướp chính quyền, thầy Cai Tâm đứng
đầu danh sách những người bị coi là
Việt gian, bóc lột và bị kết án tử h́nh. Thanh
niên Tiền phong đă đến bắt thầy Cai Tâm sau
khi đă phá hoại ngôi nhà nền đúc của thầy.
Họ trói tay thầy lôi ra sân banh, và hành quyết với
bản án chỉ tóm tắt trong mấy chữ “hợp tác
với giặc Pháp”.
Ông Phủ Kiểng c̣n có một con gái
nữa, không nhớ tên, gả cho thầy Mười
Nhẫn, tức Lê Quang Nhẫn, con trai ông Phủ Lê Quang
Liêm. Ngoài ra, ông Phủ Kiểng c̣n làm sui với ông Hội
đồng Bền, một cự phú khác cũng ở Gióng
Miễu, Mỏ Cày.
Đất Mỏ Cày c̣n nổi tiếng
với hai cha con ông Huyện Minh và Hội đồng Quá.
Ông Hội đồng Quá người
tổng Minh Quái, quận Mỏ Cày, giàu có nhưng hay
tường công tiếc việc với kẻ ăn
người ở trong nhà, và cả dân làng. Ông Quá nổi
tiếng khi góp lúa ruộng dùng cái giạ già (đơn
vị đong lường, nhưng nhiều hơn 40 lít) và
khi cho vay th́ dùng cái giạ non (kém hơn 40 lít). Ngoài ra, ông c̣n
là người cho vay cắt cổ. Sự giàu có của ông
là mồ hôi nước mắt của dân chúng, tá
điền nghèo khổ bất hạnh đóng góp. Khi cho vay
lúa, ông cho đong bằng cái giạ non, khi gạt mặt,
c̣n hổng một lỗ trên mặt. Đến mùa góp lúa
ruộng, ông đem theo cái giạ già thêm mấy lít, và
gạt miệng vun chùn. Nhiều lần đi thâu lúa
ruộng tại sân lúa tá điền, sau khi đong
đủ lúa cho ông th́ người mướn ruộng
chỉ c̣n... cầm cây chổi quét sân mà nước mắt
tuôn ḍng. Làm ruộng được bao nhiêu đă đong
hết cho ông v́ đă mượn nợ, trả tiền
lời, tiền mướn ruộng, không c̣n một
giạ để ăn, nhưng ông không động ḷng. Có
một lần, một tá điền gạt lúa cộ
về nhà đập xong, giẽ sạch, phơi khô rồi
đong hết cho ông, nhưng cũng chưa đủ. Bà
vợ ông Hội đồng Quá bèn hỏi tá điền:
- Mầy có mấy đứa con?
Tưởng bà nhân đức, hỏi gia
cảnh để châm chế cho ḿnh, cho lại vài ba
giạ để các con ăn đỡ đói,
người tá điền lễ phép thưa:
- Bẩm bà tôi có 5 đứa!
Bà Hội đồng Quá nói:
- Biểu một đứa con của mày
vào ngồi trong cái giạ, rồi gạt cho tao.
Tá điền khốn khổ nước
mắt rưng rưng, không nói thêm một lời.
Tuy giàu có, nhưng vẫn tham lam, đó là
tại bản tánh ích kỷ của một số tá
điền chủ ở Nam Kỳ ngày trước. Nhà ông
Hội đồng Quá lúc nào cũng có nuôi 5 con heo nái,
khoảng một chục heo lứa và hàng mấy chục
heo con. Tôi tớ hàng chục nhưng đầu tắt
mặt tối làm không hết việc. Hễ ai muốn vay
mượn, nhờ vả điều ǵ khi tới nhà ông
Hội đồng Quá, trước tiên là phải làm
việc nhà như tôi tớ. Đàn ông th́ quết chuối
cho heo ăn. Có người phải giă trắng một hai
cối gạo, rồi mới khép nép hỏi chuyện vay
mượn. Đàn bà tới nhà phải xắc chuối cho
heo ăn, ít nhứt cũng phải hai cây chuối. C̣n
việc vay mượn được hay không là chuyện
khác. Cả tổng Minh Quái hầu như ai cũng có
dịp giă gạo hoặc xắc chuối trong nhà ông
Hội đồng Quá. Ông hà khắc với tất cả
mọi người không phân biệt thân sơ, già trẻ,
đến nỗi thân phụ ông là ông Huyện Minh, cũng
bất b́nh. Theo lời dân địa phương, trong
tổng Minh Quái, có đến 1/4 đất ruộng
thuộc về Hội đồng Quá.