NHNG NHÀ PHÚ H VÀ NGƯI LNG DANH Ở NAM Kỳ

 

Hứa Hoành

 

 

Phần 1 - Vùng Tiền Giang

 

Hồi năm 1918, nhà văn Phạm Quỳnh có vào thăm Nam Kỳ. Ông viết bài “Một tháng ở Nam Kỳ” đăng liên tục nhiều kỳ trên báo Nam Phong. Tuy có thái độ tự tôn, nhưng nhà văn Phạm Quỳnh cũng ngạc nhiên thấy mức sống của các ông cai tổng, điền chủ, hội đồng trong Nam quá cao, quá sung túc hơn những ông tổng đốc, tuần phủ, án sát ngoài Bắc. Các điền chủ lớn trong Nam là những ông vua nho nhỏ tại địa phương. Điền chủ có vài ngàn mẫu ruộng như một ấp riêng, có chợ riêng, hàng chục ngôi nhà nền đúc, có máy điện, máy lạnh, xe du lịch, ca-nô và tôi tớ hàng chục người phục dịch trong gia đ́nh. Trong khi đó, nông dân, tá điền, những người góp phần làm cho họ giàu có chỉ có mỗi căn cḥi lá ọp ẹp và chiếc xuồng ba lá... Chúng tôi không có thành kiến như Cộng Sản “Hễ nhà giàu th́ bóc lột, là ác ôn, là trọc phú bất nhơn.” Giới nào cũng có người tốt kẻ xấu. Nhiều điền chủ có vài ba trăm công ruộng, đối đăi thân mật với tá điền như anh em, chỉ những người quá giàu thỉnh thoảng mới có người khắc khe.

Thói thường “phú quư th́ bất nhơn, c̣n bần cùng sanh đạo tặc gian trá.” Tá điền, nông dân làm mướn đáng thương mà các điền chủ cũng có khi không đáng trách. Lỗi ấy tại chế độ thực dân dung dưỡng. Thực dân muốn cho một số ít người thật giàu để họ trung thành và áp bức kẻ nghèo thay họ, giúp họ một cánh tay đắc lực trong việc nội trị. Bấy giờ, dưới chế độ cộng sản, người nông dân Việt nam c̣n nghèo khổ hơn v́ nhà nước độc quyền mua sản phẩm, độc quyền bán phân bón, thuốc trừ sâu c̣n lại thu thuế rất cao. Nếu giàu quá ắt không khỏi mang tiếng bóc lột, mà con cháu sẵn của, ăn không ngồi rồi, sinh lắm thói hư tật xấu, cũng là một khía cạnh khác của xă hội đương thời.

Các đại điền chủ ở Nam Kỳ hồi trước đều có hàng chục lẫm lúa. Mỗi lẫm là một dăy nhà liên kế, rộng 4, 5m, bề dài từ vài chục đến hàng trăm mét. Nhiều gia đ́nh giàu quá, không biết xài cách nào cho hết tiền, nên con cái phung phí cũng là chuyện dĩ nhiên. Hễ cha kiếm tiền dễ th́ con phải xài phá. Đó là định luật. Ít khi, nhưng vẫn có những người giàu biết nhân nghĩa, làm việc thiện. Hội đồng Đoàn Hữu Nhơn ở Bến Tre tặng nguyên một ghe chài lúa cho làng để cất trường học. Bà Huyện Xây ở Vũng Liêm, cứ mỗi ngày rằm lớn thường làm chay, phát chẩn, dựng rạp trước nhà để đăi người nghèo, hành khất... Không phải hễ phú quư th́ tàn ác mà nghèo khổ là đạo đức, đáng thương hại tất cả.

Trung thành với chủ trương từ trước tới nay, chúng tôi không phê phán công việc làm ăn của họ mà chỉ liệt kê, t́m hiểu. Một nguồn gốc của sự giàu sang phú quư khác, được cắt nghĩa bằng thuyết phong thủy. Tuy mơ hồ, nhưng hồi trước ai cũng tin vào thuyết này. Con người sống nhờ đất. Đất tạo ra của cải nuôi sống loài người. Con người không thể tồn tại nếu thiếu đất. Lịch sử Đông Tây kim cổ chứng minh rằng vấn đề ruộng đất là nguồn gốc mọi sự bất hoà trong mỗi gia đ́nh, sự xích mích giữa ḍng họ, sự tranh chấp trong làng xóm, láng giềng và là nguyên nhân của các cuộc chiến tranh. Nói cho cùng, nguyên nhân gây ra hai cuộc thế chiến hồi đầu thế kỷ 20 này cũng chỉ là cuộc tranh chấp đất đai mà ra. Đất nào sinh ra người nấy. Thuyết phong thủy giải thích tại sao có “địa linh sinh nhân kiệt? Theo quan niệm cổ, ông bà ta cho rằng cuộc đất linh thiêng do núi sông un đúc, đă sản sinh những anh hùng, hào kiệt. Đó là thế đất kết tụ khí thiêng sông núi, đồng bằng như một sự kết hợp hài hoà, mà những người am hiểu địa lư không thể biết được?

Ngày nay, khoa học chưa t́m ra mối lương quan ấy. Tuy vậy các nhà doanh nghiệp, nhứt là ở Á Châu, mỗi khi t́m cơ sở thiết lập hăng xưởng, nơi mở văn pḥng, luôn luôn nhờ thầy địa lư t́m thế đất vượng phát. Cũng có khi gặp thế đất xấu, nhưng do nhu cầu làm ăn, họ phải “cải tạo bằng cách trấn yểm. Quan niệm về địa lư phong thủy c̣n giải nghĩa tại sao có những người hồi hàn vi lao đao khổ sở, không có cục đất chọi chim, mà chỉ trong một thời gian ngắn trở nên giàu có, trở thành những thế gia vọng tộc, ḍng họ nhiều đ̣i hưởng phú quư. Trái lại, có những người đang giàu có, hưởng phú quư vinh hoa, làm ăn phát dạt, phút chốc sụp đổ, trở thành trắng tay.

Viết được loạt bài này tôi mắc nợ ơn nghĩa nhiều người. Trong số đó có nhà văn và bạn đồng hương cũ Hồ Trường An, giúp chúng tôi rất nhiều tài liệu để bài viết được sống động, phong phú. Tôi xin chân thành cám ơn nhà văn Hồ Trường An.

 

Những phú hộ và nhân vật lừng danh ở G̣ Công

Trong bộ Nam Kỳ lục tỉnh, chúng tôi có nhắc đến G̣ Công là nơi phát tích các ḍng họ quư tộc. Bài này chỉ kể đến các nhà giàu xưa. So với các tỉnh nằm trong lưu vực giữa hai sông Tiền và Hậu Giang, G̣ Công là tỉnh nhỏ, đất hẹp, nhiều phèn và nước mặn, mỗi năm chỉ làm ruộng có một mùa. Tuy nhiên theo nhiều ông già bà cả kể lại đó là một cuộc đất quư, một thế đất “Long đầu phượng y” (đầu rồng, đuôi phượng). Ở đây người ta thường truyền tụng hai câu ca dao:

Đầu rộng đuôi phụng le the,

Mùa xuân ấp trứng, mùa hè nở con.

Đối với người b́nh dân, đó là hai câu “thai đố” (xuất quả) tức buồng cau. Thực vậy, ít có nơi nào trên đất nước có nhiều địa danh “long phụng” như vùng G̣ Công, Mỹ Tho, Bến Tre. Nào là Côn Rồng (cù lao Rồng) trước chợ cũ Mỹ Tho, Côn Phụng (nơi hành hương của ông Đạo Dừa). Theo thuyết phong thuỷ đă cắt nghĩa vị trí địa lư đắc lợi của tỉnh G̣ Công như sau:

 “Đất G̣ Công sở dĩ sản sinh nhiều bậc công hầu khanh tướng (Đức Quốc công Phạm Đăng Hưng, Long Mỹ Quận công Nguyễn Hữu Hào, bà Từ Dụ Thái hậu, bà Đinh Thị Hạnh, thứ phi của vua Thiệu Trị...) th́ phía Nam G̣ Công là nơi tiếp giáp với Mỹ Tho, Bến Tre có Vàm Rồng ở làng Vĩnh Hựu, rạch Long Uông ở xă Tăng Hoà, rạch Long Trọng trên có cầu Ngang. Rạch này làm ranh giới giữa hai làng Thạnh Nhựt (G̣ Công) và Hoà B́nh (Chợ Gạo). Hồi trước có nạn xét giấy thuế thân, ông bà kề lại, hễ khi hương chức làng xét, dân nghèo trốn qua làng Ḥa B́nh, c̣n phía Mỹ Tho xét th́ đàn ông trốn qua làng Thạnh Nhựt như tṛ chơi cút bắt. Chỗ rạch Long Tượng, nối từ Thạnh Nhựt ăn ra Tiền Giang, được gọi là “đầu Rồng”, theo kiểu “long đầu hí thủy.” C̣n đuôi rồng nằm về phía Bắc. Vùng phía Bắc tỉnh lỵ G̣ Công, có địa danh “vườn Phụng” do ông Thôn Cửu lập ra giữa thế kỷ 19, với G̣ Lân ở làng Sơn Quy. Thế đất đó gồm đủ “Long Lân Quy Phụng” tức “tứ linh,” nên làng nào nằm trong cuộc đất “tứ linh”, sẽ vượng phát phú quư. Các làng Sơn Quy, Tân Niên Đông, Tân Niên Tây, B́nh Thành... chính là nơi phát tích các thế gia vọng tộc của Nam Kỳ hồi đầu thế kỷ này. Đây là quê hương của các ông Phủ hàm Khiêm (Huỳnh Đ́nh Khiêm), Phủ Bảy Lê Quang Liêm, Phủ Hải cùng nhiều nhà giàu lớn khác. Hôi mấy mươi năm trước, ở vùng G̣ Công có lưu truyền mấy câu hát:

Bóng lân đă hiện G̣ Đông

Rùa về quy tụ bên sông Tây Đài.

Phụng trương cánh Bắc lố mày,

Rồng thiêng uốn khúc Nam Nhai ẩn ḿnh.

Dưới con mắt của các nhà địa lư phong thuỷ, chính đây là thế đất có các huyệt Châu Trước, Thanh Long, Bạch Hổ... ai có hài cất tổ phụ được an táng vào những nơi đó, con cháu sẽ trở nên giàu sang phú quư. Thế đất “G̣ Sơn Quy” nằm ven một con sông nhỏ, nối rạch Hàng chảy qua chợ G̣ Công, là nơi có nước ngọt, phù sa tân bồi, là noi lập vườn, làm ruộng đều tươi tốt.

Đất linh sinh người tài tuấn. Phụ nữ ở đây nhiều người xuất sắc, quê của thân phụ Nam Phương Hoàng hậu, hay những người dân giă như cô Nguyễn Thị Kiêm (Manh Manh nữ sĩ), bà Nguyễn Đức Nhuận (nhũ danh Cao Thị Khanh), chủ nhiệm tuần báo Phụ Nữ Tân Văn nổi tiếng ở Nam Kỳ (1928-1933), bà Phan Thị Bạch Vân, sáng lập “Nữ Lưu Thơ Quán” xuất bản nhiều sách kêu gọi ḷng yêu nước, đến nỗi thực dân lo sợ, phải cấm và bắt bà đưa ra toà... Một thiếu nữ khác, học giỏi, yêu nước, thuộc hạng thượng lưu xă hội là bà bác sĩ Nguyễn Thị Sương. Bà Sương sinh năm 1910, được gia đ́nh cho qua Pháp du học rất sớm lúc mới 17 tuổi. Tại đây, bà Sương học các trường Lyceé de Versailles (Nice), rồi qua Aix- en- Provence, tốt nghiệp Tú tài Triết học. Sau đó bà lên đại học ban Lư Hóa và đỗ vào trường thuốc. Năm 1940, bà Nguyễn Thị Sương là người phụ nữ lục tỉnh đầu tiên đậu Y khoa bác sĩ. Bà là lănh tụ Thanh nữ Tiền phong hoạt động mạnh ở Sài g̣n năm 1945, nhưng sau bị Việt Minh giết v́ uy tín của bà đối với quần chúng quá lớn. Chồng bà, bác sĩ Hồ Vĩnh Kư thuộc nhóm Trotskyist, cũng chịu chung số phận với bà.

Thuộc hàng thế gia vọng lộc bậc nhứt tại G̣ Công là gia đ́nh họ Phạm Đăng. Xuất phát từ Quảng Ngăi, ḍng họ Phạm Đăng theo đoàn người di dân trong đợt Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh chiêu mộ, đă đến G̣ Công, cất nhà ở tại giồng Sơn Quy. Phải đợi hai thế hệ sau họ Phạm Đăng có người ra làm quan cho tân triều tới chức Thượng Thư, một trong tứ trụ của triều đ́nh. Phạm Đăng Hưng có con gái là Phạm Thị Hàng, gả cho vua Thiệu Trị tức Từ Dụ, mẹ ruột vua Tự Đức. G̣ Sơn Quy cũng là quê hương của cô Đinh Thị Hạnh, thứ phi của Thiệu Trị. Đinh Thị Hạnh sinh con trai trước bà Từ Dụ, đặt tên Hồng Bảo, tước An Phong Công, nhưng không được nối ngôi, mặc dầu là con trưởng. Việc này đă lạo ra cuộc đảo chính vua Tự Đức bất thành. Hồng Bảo bị bức tử trong ngục. Các con của Hồng Bảo phải đổi theo họ Đinh của mẹ (Đinh Đạo).

Ông Nguyễn Hữu Hào và vợ là bà Lê Thị Bính (con gái ông Huyện sĩ Lê Phát Đạt) đă sinh ra Nguyễn Thị Hữu Lan tức Nam Phương Hoàng hậu sau này. Nhà giàu xưa thuộc hàng dân giả có nhiều người có tiếng tăm như ông Phủ Huỳnh Đ́nh Khiêm ở làng Đồng Sơn, ông Hội đồng Nguyễn Văn Hạc, ông Phủ Hải...

Theo nhà văn Hồ Trường An cho biết:

“Người giàu nhứt tỉnh G̣ Công là “Bà Tư Nói”, tên trong khai sinh là Lâm Tố Liên. thuở hàn vi, cô Tố Liên bán trầu cau tại chợ G̣ Công hồi Tây mới qua. Cô Thiên không chồng con. Cô góp nhóp tiền mua một mẫu ruộng. Sau đó, lần hồi cô mua may bán đắt, lại có huê lợi của mẫu ruộng, nên cô sắm thêm ruộng. Công cuộc làm ăn càng lúc càng thạnh vượng, cô bỏ nghề bán trầu cau, mở tiệm bán tơ lụa nho nhỏ. Vào tuổi ngũ tuần, Lâm Tố Liên có lợi tức 400 mẫu ruộng tốt, giàu bực nh́ ở G̣ Công, ăn đứt ông Phủ Huỳnh Đ́nh Khiêm (Phủ hàm) ở Đồng Sơn, ông Cai tổng kiêm Hội đồng Nguyễn Văn Hạc, ông Huyện Quái, ông Phủ Hải, ông Hội đồng Đinh Nhựt Chu...

Khi lớn tuổi, cô Lâm Tố Liên được dân G̣ Công kêu bang “Bà Tư Nói”. Tiệm của bà bán đủ thứ lănh: lănh Bưởi ngoài Bắc, lănh Nam Vang, lănh Tân Châu, lănh Thượng Hải (lănh trơn, lănh bông). Ngoài ra, bà c̣n bán những hàng lụa sản xuất trong nước như lụa Hà Đông ở ngoài Bắc, lụa Duy Xuyên ở Quảng Nam, the La Cai, the và xuyến đất Diên Khánh, hàng Cẩm ở Châu Đốc, lụa Tân Châu, cùng các loại cẩm nhung, cẩm vân, cẩm tự, cẩm trước, cẩm cuốn, cẩm quệt, cẩm kim... (cẩm là loại hàng lụa, c̣n gọi là “gấm”).

Cẩm nhung có nhiều loại màu, đem ra ánh sáng mặt trời th́ thấy có vạch sáng rờn rợn. Cẩm vân, màu trắng, màu vàng, là hàng dệt nền khô bông mướt h́nh cụm mây. Cẩm tự màu đen nền ướt bông khô, dệt h́nh chữ thọ, Cẩm trước màu đen hay trắng, nền ướt bông khô, dệt h́nh lá trúc. Cẩm cuốn dệt bông h́nh quyển sách cuốn tṛn, có buộc nơ. Cẩm quyệt dệt bông h́nh trái quưt có đeo hai chiếc lá. Cẩm kim dệt h́nh mũi kim nhỏ, thuộc loại nền khô bông ướt. Lại c̣n cẩm sen loại nền khô bông ướt, dệt h́nh bông sen. Nếu kêu cho đúng nghĩa phải gọi cẩm quưt là “cẩm quất”, cẩm kim là “cẩm châm”,”cẩm sen” là “cẩm liên”, cẩm cuốn là “cẩm thư” để tránh tiếng Hán ghép vào tiếng Nôm.

Hàng cẩm tự chỉ để dành may quần. C̣n các loại hàng cẩm vân, cẩm cúc, cẩm kim, cẩm sen... để dành may áo. Ngoài ra c̣n dùng để may áo lẫn quần là cẩm nhung, cẩm cuốn, cẩm trước, cẩm quưt. Cẩm vân c̣n có thứ màu tím. Cẩm nhung ngoài màu trắng màu đen, c̣n có màu tím, màu hường, màu mắm ruốc, màu khói nhang. Về sau, có thứ cẩm phụng ḿnh khô dệt chim phụng đang bay, thường có màu đen hay màu trắng. Người hay chữ thời trước gọi cẩm là “gấm”. Ở Tây Ninh, chỗ gần ngă rẽ vào chợ Long Hoa, có một địa danh gọi là Cẩm Giang (Sông Gấm). Cắt nghĩa hiện tượng này có người lớn tuổi hiểu biết chuyện xưa nói rằng: “Cách nay non một thế kỷ, chỗ này là con rạch đầy rau mát (c̣n gọi là lục b́nh, hay bèo Nhựt Bản?) trổ bông màu tím như gấm nên mới đặt tên là Cẩm Giang. Tại tỉnh Tứ xuyên (chỗ hợp lưu 4 con sông, gần ngay tỉnh lỵ) bên Trung Quốc, cũng là quê hương của các loại cẩm lụa. Tương truyền lụa sản xuất tại Tứ Xuyên, đem giặt dưới sông này th́ trở nên trong sáng, đẹp hơn, nên họ đặt. tên sông ấy là “Cẩm Giang”.

Về sau, bà Tư Nói nhờ một ông thầu khoán ở chợ G̣ Công gọi là ông Tư Bảy, cất cho bà một cái nhà ba căn hai chái, nền cẩn đá da quy (giống như vảy rùa), nền cao tới ngực, mái lợp ngói lưu ly. Để có thứ ngói này, ông thầu khoán Tư Bảy phải đặt mua Lái Thiêu. Ngói lưu ly là ngói móc (có người gọi là ngói vảy cá, v́ có cái móc để cày vào sườn nhà khi lợp giống như lớp vảy cá, hoặc vảy rồng được tráng men bóng lộn. Ông Tư Bảy mua ngói lưu ly tráng men vàng và ngói lưu ly tráng men lục để lợp nhà bà Tư Nói. Ngói vàng, dưới ánh mặt trời, th́ có màu men chậu xứ Giang Tây. Vào mùa gặt lúa vào giữa tháng Chạp tới giữa tháng Giêng, mỗi ngày hàng chục chiếc xe ḅ chớ lúa tới lẫm (vựa lúa) của bà Tư Nói để đong lúa cho bà. Tuy có nhà đẹp, nhưng bà Tư Nói thích ở căn tiệm bán lănh lụp xụp của ḿnh, c̣n ngôi nhà nguy nga tráng lệ của bà, dành cho gia đ́nh bà Bảy em (em gái ruột của bà. Khi bà qua đời, bà Bảy em (chớ không phải Em) làm cái nhà mồ cho bà. Ngôi nhà mồ nguy nga đồ sộ không thua phủ thờ (nơi thờ bà Từ Dụ Thái hậu, cách chợ G̣ Công 4 cây số). Khi bà Từ Dụ mất, được an táng tại Vạn Niên Cơ (Khiêm Lăng) ở ngoài Huế, nhưng con cháu của Phạm Đăng Hưng ở G̣ Công thuộc hàng quốc thích, xúm lại lập đền thờ bà, gọi là “Phủ thờ.” Hồi trào Tây lẫn trào Bảo Đại, các con cháu của ḍng họ Phạm Đăng khỏi đóng thuế thân lẫn thuế điền cho nhà nước.

Người giàu thứ hai là ông Tri phủ Huỳnh Đ́nh Khiêm ở làng Đồng Sơn. Đất Đồng Sơn thuộc vùng có mùa nước mặn lẫn mùa nước ngọt, nên có thể lập vườn. Lập vườn có huê lợi bán quanh năm, c̣n làm ruộng chỉ được một mùa lúa. Dân G̣ Công ở vùng Tân Niên Đông, Tân Niên Tây, Kiểng Phước v́ gần biển, nên có nước ngọt khi có mưa già, nên khó lập vườn. Họ chỉ làm ruộng được vào đầu mùa mưa. Ông Phủ Khiêm nhờ có ruộng lẫn vườn nên mau giàu. Ông là ông ngoại của luật sư Nguyễn Hữu Châu, nguyên Bộ trưởng dưới thời Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Ông Châu là rể của luật sư Trần Văn Chương, chồng trước của bà Trần Lệ Chi, là anh em cột chèo với ông Ngô Đ́nh Nhu.

Người thuộc hàng dân giả, giàu thứ nh́ ở G̣ Công là ông Hội đồng Nguyễn Văn Hạc (tên một loài chim). Ông có một người con gái đầu ḷng, tên là cô Hai Én. Mấy người em trai của cô Hai Én, đều có tên thuộc loài chim ở miền đồng bang sông Cửu Long. Đó là cậu Ba Nhạn, cậu Tư Quắc, cậu Năm Sắt, cậu Sáu Sẻ, Bảy Trích và Tám Diệc. Cô Hai Én kết hôn với quan thầy thuốc, tức bác sĩ Nguyễn Như Ánh. Cô có mở một tiệm may thiệt lớn ngoài chợ G̣ Công. Cậu Ba Nhạn mua chức hương hào, một chức nhỏ trong ban hương chức hội tề. Hồi tiền chiến, các dân cậu ở miệt vườn, tuy có tiền của, nhưng chẳng có chức phận chi, thường bỏ tiền ra mua chức hương hào hay hương thân. Nhờ hai chức đó mà mai sau, họ có thể leo tới chức hương trưởng, hương sư, hương cả.

Vào năm 1945, gặp lúc phong trào Việt Minh nổi dậy, thầy hương hào bị ghép tội Việt gian, tội địa chủ bóc lột tá điền, nên Việt Minh xử bắn thầy. Năm Sắt ôm mối thù không đội trời chung với Việt Minh, nên t́nh nguyện điềm chỉ cho Tây những ổ kín của Việt Minh (khi Tây làm chủ được lục tỉnh), những cơ quan bí mật của Việt Minh trong lănh thổ G̣ Công để báo thù cho anh ḿnh... Về sau, Năm Sắt lên Sài g̣n, làm phóng viên nhiếp ảnh cho nhựt báo Thần Chung. Ông ta giỏi phong cầm, được quái kiệt Trần Văn Trạch mời tŕnh diễn phong cầm (accordéon) trong các buổi phụ diễn tân nhạc cho hai rạp hát bóng Văn Cầm (Chợ Quán) và rạp Nam Việt (Chợ Cũ).

Ông Đốc phủ Hải, ngoài ruộng đất ra, c̣n là người lập hăng nước đá đầu tiên ở G̣ Công. Người con trai của ông là cậu Bé Sáu, được du học bên Tây, ăn học thành tài. Ông Huyện Quái có người con trai là ông huyện Hải. Về sau, ông Huyện Quái có nạp một người vợ goá của một anh tá điền để làm thiếp. Chị này đẻ một đứa con trai, đặt tên là Ba Huệ. Cậu Huệ được cha mẹ cưng, được anh trưởng chiều chuộng. Cậu đi học, có tài xế lái xe nhà đưa rước. Người thiếp của ông Huyện Quái có nhan sắc, được chồng sủng ái. Trong đám tôi tớ có đứa ghen tức, đặt điều là ông Huyện Hải thông dâm với d́ ghẻ, cho nên Ba Huệ là con của ông Huyện Hải với người thiếp. Nói như vậy tức là bề ngoài Huyện Hải là anh Ba Huệ, nhưng thiệt ra là cha của Ba Huệ. Hư thực ra sao chỉ những kẻ trong cuộc mới biết.

Ông Hội đồng Đinh Nhựt Chu có người con trai là hương quản Dương (Đinh Nhựt Dương) ở Tân Niên Tây. Ruộng đất của ông đều ở vùng nước mặn (ruộng biển). Nhưng lúa ở các ruộng biền (biển ở đây có nghĩa là bưng biền) như lúa tiêu, lúa nàng cơ, lúa nàng qướt... đều cao hơn lúa ở vùng khác, hột lại nặng hơn hột lúa thường. Thầy hương quản Dương giữ chức thấp trong 12 vị hương chức của ban hương chức hội tề, nhưng tía thày giữ chức hội đồng địa hạt, thầy quen biết các quan tai to mặt bự ở ngoài tỉnh. Vào thời thái b́nh thịnh trị, tuy giữ an ninh cho làng Tân Niên Tây, nhưng thầy vẫn ngồi xe máy đi đá gà, đi hột me. Thầy là người đầu tiên mua máy đèn, mua giàn hát máy Columbia, mua điă hát nhạc Tây... Sau đó, thầy cũng là người đầu tiên mua xe hơi, chiếc Renault Celt 4. Bởi thầy giàu, giao thiệp rộng, quen biết nhiều nên các ông hương chức hội tề từ hương cả xuống xă trưởng, không dám khinh lờn thầy. C̣n các ông Phủ, ông Huyện, thầy Cai tổng, thầy Bang biện, không dám cậy oai hùng hiếp thầy.

Thầy Thôn Thọ, trước làm thầy giáo. V́ thầy là nhà giàu, nên nghề gơ đầu trẻ chỉ là nghề để thầy giải muộn, chớ không phải việc mưu sanh chánh của thầy. Được ít năm, thầy nghỉ việc chỉ giữ việc công nho cho làng. Đó là chức “thôn”, công nho là tiếng xưa, có nghĩa là công quỹ hay ngân quỹ. Thầy Thôn Thọ có tiệm sửa xe đạp, bán đồ phụ tùng xe đạp. Ngoài ra, thầy c̣n bán đèn Ti to Landy của Tây đốt bằng xăng, sau đó bán đèn Ai da bằng dầu lửa, và đèn Pétromax của Đức hai loại này thuộc loại man chon. Về sau, thầy dẹp tiệm sửa xe, lập một cái đề bô (dépot) rượu, xéo xéo chợ G̣ Công.

Nhà giàu chót là ông Hội đồng Lợi nhờ làm ruộng và lập vườn mà giàu có, chớ không có nguồn lợi nào khác.

Ngoài ra c̣n thầy Ba Vị, có nhà máy chà gạo ở Vĩnh Trị, cách chợ G̣ Công 7 cây số, cách giồng ông Huê 3 cây số cũng là một nghiệp chủ đáng kể. Năm 1945, khi Việt Minh cướp chính quyền, th́ ông Huyện Hải (con ông Huyện Quái), hương hào Nhạn, thầy Thôn Thọ, ông Hội đồng Lợi, thầy Ba Vị cùng hai đứa con trai mới 15, 16 tuổi của thầy đều bị xử bắn. Lúc đó trong đám Việt Minh ở chợ G̣ Công, có chủ tịch Côn, là thợ hớt tóc ở tiệm Minh Hồng, làm chủ tịch Uỷ ban Nhân dân, giữ chức trưởng ban Quốc gia tự vệ cuộc (Công an). Thầy giáo Philippe (thủ lănh Thanh niên Tiền phong), Trần Thanh Liêm bí thơ uỷ ban Nhân dân và tên chủ tiệm tạp hoá Vạn Lợi (không giữ chức vụ ǵ). Khi Tây tới chiếm tỉnh G̣ Công, có khuyên dân chúng ai lỡ theo Việt Minh trong thời kỳ Việt Minh cướp chính quyền, hăy ra đầu thú, sẽ được ân xá để làm ăn như xưa. Chỉ trừ chủ tịch Côn, tên thợ hớt tóc tiệm Minh Hồng, thầy giáo Philippe, tên Trần Thanh Liêm, tên chủ tiệm Vạn Lợi, là 4 tên tội phạm đầu sỏ, cần phải bắt giết để trừ hậu hoạn.

Về sau thầy giáo Philippe, ban đêm băng qua con lộ Giây thép, bị lính partisan đi tuần tiểu bắn chết. Tên thợ hớt tóc tiệm Minh Hồng, ban đêm lẻn về thăm vợ ở làng Vĩnh Trị cũng bị lính ở đồn Vĩnh Trị phục kích bắn chết tại trận. Họ cột thây hắn treo lên cây ở lộ Giây Thép để cho thân nhân của những kẻ chết đến nḥm mặt. C̣n chủ tịch Côn thoát chết trong một trận ruồng bố, cảm thấy ăn năn tội cũ, nên cùng tên chủ tiệm Vạn Lợi trốn lén núi Thiên Giải ở Bà Rịa để tu hành. Từ năm 1946 trở về sau, cả hai không bao giờ chường mặt ở lănh thổ đất G̣ Công nữa. Trải qua bao cuộc biển dâu, không ai c̣n nhắc tới họ nữa”.

Ngoài ra, trong tỉnh G̣ Công cũng c̣n nhiều nhà giàu xưa, kẻ ở phía bắc tỉnh lỵ, người ở phía Nam như ông Phủ Bảy Lê Quang Liêm, ông huyện Hiền, ông Hội đồng Nguyễn Minh Chiếu (có tên đường ở Phú Nhuận).

 

Ông Phủ Lê Quang Liêm (1881-1945)


Ông thuộc thế hệ thứ hai, sau các ông Tôn Thọ Tường, Đỗ Hữu Phương, Trần Tử Ca... là những người cộng tác trung thành với Pháp. Sinh trưởng tại G̣ Công năm 1881, Lê Quang Liêm học trường Mỹ Tho, rồi lên Sài g̣n, học tiếp trường Chasseloup Laubat. Năm 1897, Lê Quang Liêm tốt nghiệp tương đương bậc Trung học đệ nhứt cấp (cấp 2) ngày nay. Nhiệm sở đầu tiên của ông Liêm là thư kư tập sự tại Phủ thống đốc Nam Kỳ, sau đó đổi ra làm việc tại Phủ toàn quyền tại Hà Nội từ năm 1899 đến 1906. Bước đường công danh của ông ran lượt thăng Tri huyện năm 1909, Tri phủ 1914.

Trong thế chiến thứ nhứt 1914-1918, Lê Quang Liêm t́nh nguyện phục vụ bên Pháp, làm phụ tá cho bác sĩ Lê Quang Trinh (người Bến Tre), coi đám lính thợ người Đông Dương. Hồi hương khi thế chiến thứ nhứt chấm dứt, ông Liêm được thăng Đốc phủ sứ hai năm sau đó. Lúc mới về nước, Lê Quang Liêm cộng tác với các ông Nguyễn Phú Khai, Trần Văn Khá, Bùi Quang Chiêu, lập ra đảng Lập hiến, tranh đấu ôn hoà, và chỉ bênh vực quyền lợi cho các nhà giàu.

Từ năm 1926 về sau, Lê Quang Liêm đắc cử Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ, từng giữ chức Phó chủ tịch hội đồng này từ năm 1937-1938. Ông được Pháp cử tham dự các phiên họp Hội đồng Kinh tế Lư tài Đông Dương từ năm 1929-38. Ông Lê Quang Liêm được dân chúng G̣ Công quen gọi “Ông Phủ Bảy”, là người giàu có lớn nhờ thực dân ban bố nhiều đặc quyền về ruộng đất. Ông hiểu biết thủ tục khẩn đất hoang. Về việc này Lê Quang Liêm bị báo chí các năm 1934, 1935 đả kích trong hành động “chiếm đất của nông dân trực tiếp khai phá” tại vùng Cái Sân (Thạnh Quái), nên bị gán cho mấy chữ “Ông Phủ Lê Thạnh Quái”. Tuy bị báo chí phanh phui, nhưng v́ có thế lực và thực dân che chở, nên nội vụ bị ém nhẹm.


Về hoạt động xă hội, văn hoá, Lê Quang Liêm là một trong các sáng lập viên Hội khuyến học, Quỹ học đường ở Chợ Lớn.

Ngoài ra tại G̣ Công, Lê Quang Liêm cùng các ông Hồ Biếu Chánh, ông Huyện Trị (thân phụ cô Manh Manh nữ sĩ)... lập ra “Miếu thờ Khổng Tử”.

Năm 1945, khi Việt Minh nổi dậy cướp chính quyền khắp Nam Kỳ, Lê Quang Liêm là một trong nạn nhân đầu tiên của họ. Sau khi Pháp tái chiếm miền Nam, dùng tên Lê Quang Liêm để đặt cho một con đường dưới mé sông Chợ Lớn.

Nhà giàu lớp trước nữa, thuộc thế kỷ 19, được người đời nhắc tới là ông Mai Tấn Huệ, một cự phú đă khai thác nhiều sở ruộng, lập vườn, xây đập để ngăn nước mặn tràn vào ruộng. Nghe đâu hồi trước ông làm quan vơ dưới triều Nguyễn tới chức Chưởng cơ, nên dân chúng nhớ ơn gọi chỗ đó là “đập ông Chưởng”, nay vẫn c̣n.

G̣ Công c̣n là quê hương của một chàng công tử ăn chơi khét tiếng được dân chúng tôn là “dân cậu” hay “công tử” tiền phong của Nam Kỳ. Cuộc đời của công tử Hai Miêng, con lănh binh Huỳnh Công Tấn, chúng tôi có viết lại trong bài G̣ Công, nơi phát tích các ḍng họ quư tộc. Làng Đồng Sơn, trù phú nhứt trong tỉnh, ruộng sâu, đất cát ph́ nhiêu, vườn tược nhiều cây trái tươi tốt. Đó là cuộc đất của nhiều bậc cự phú trong tỉnh. Đồng Sơn cũng là quê quán của người viết tiểu thuyết tiên phong ở Nam Kỳ là Lê Sum, tự Trường Mậu (Viết báo Nông Cổ Mạn Đàm). Chỗ này là trung lâm văn hoá của G̣ Công hồi giữa thế kỷ 18. Từ miền ngoài, các vị khoa bảng lỡ vận, các ông đồ theo đoàn người di dân đến đây lập nghiệp. Lớp người có căn bản Nho học đầu tiên ấy, đă đào tạo các ông Nhiêu Phan, Nhiêu Chánh ở địa phương.

 

Luật sư Vương Quang Nhường, rể vua Thành Thái

Ngoài ra, G̣ Công c̣n là quê hương của nhiều nhân vật lừng danh của Nam Kỳ.

Vương Quang Nhường là một khuôn mặt trí thức lớn của Nam Kỳ, sinh năm 1902, tại Yên Luông Đông, G̣ Công. Sau khi thôi học trường Mỹ Tho, Vương Quang Nhường qua Pháp theo học trường Luật và Kinh tế, tốt nghiệp Tiến sĩ Luật khoa. Về nước trước khi có cuộc khủng hoảng kinh tế (1929), ông Nhường làm luật sư tập sự tại văn pḥng luật sư A.M. Hussant. Đến năm 1932, ông chính thức trở thành luật sư thực thụ và gia nhập Luật Sư đoàn của toà Thượng thẩm Sài g̣n. Là người có học vấn cao, kiến thức rộng, Vương Quang Nhường được các giới thượng lưu Việt Pháp kính nể.

Nhiều người địa phương c̣n nhắc chuyện thời trai trẻ của ông Nhường. Ông Nhường có đính hôn với một nữ bác sĩ tên Henriette Bùi, con ông Bùi Quang Chiêu, người quê ở Mỏ Cày. Về sau cuộc hôn nhân bất thành, nên họ huỷ bỏ giao ước. Không rơ trường hợp nào khiến ông Vương Quang Nhường trở thành rể vua Thành Thái, là chồng của công chúa 16 tức Mệ Cưới. Mệ Cưới là em ruột cựu hoàng Duy Tân, có mặt trong đoàn ṭng vong với Duy Tân, qua đảo Réunion ở mấy năm mới xin hồi hương. Khi Pháp trở lại Nam Kỳ, t́m một số các cộng sự viên cũ, hay những người có quyền lợi gắn bó với Pháp để mời ra cộng tác, trong đó có luật sư Nhường.

Tuy được mời nhiều lần, nhưng ông không nhận một chức vụ nào. Măi đến ngày 6-5-1950, ông Vương Quang Nhường mới nhận chức Tổng trưởng Quốc gia giáo dục trong chính phủ Trần Văn Hữu và sau đó là chính phủ Nguyễn Văn Tâm. Vua Thành Thái được hồi hương về Việt nam từ năm 1947, cũng nhờ công vận động của con rể này. Về Sài g̣n, cựu Hoàng Thành Thái sống trong một căn phố như người dân thường. Có lần Ngài lên Đà Lạt và chụp ảnh chung với con Hoàng Bảo Đại. Chúng tôi muốn kể thêm một nguồn tin mà dân chúng Nam Kỳ hay kể lại “Thời gian vua Thành Thái sống lưu vong ở Vũng Tàu, ngụ trong Bạch Dinh, có ân t́nh với một phụ nữ giàu có, xinh đẹp ở Sài g̣n. Đó là cô Tám (Ngoạn?) chủ một rạp hát bộ tại Chợ Lớn. Dư luận dị nghị cho rằng trong thời gian cô Tám tới lui Vũng Tàu, bỏ tiền ra cung phụng nhà vua mất ngôi ăn xài. Nhà vua có lặng cô Tám một bộ đồ trà rất quư để kỷ niệm, và được gia đ́nh cô Tám đem triển lăm lại Kích Mếch “vườn Bồ- rô” cho công chúng thưởng ngoạn!

Có hai biến cố đáng ghi nhớ cho dân chúng G̣ Công và ḍng dơi ngoại thích các vua: đó là vào năm 1942, do lời mời của Toàn quyền Đông Dương, Hoàng đế Bảo Đại, Hoàng hậu Nam Phương có ngoạn du Sài g̣n, xuống thăm G̣ Công. Mấy tuần sau, nhà vua sang thăm xứ Chùa Tháp theo lời mời của Quốc vương Căm Bốt. Sau đó Hoàng đế, Hoàng hậu đi thăm Đế Thiên, Đế Thích, rồi trở về qua ngả Hạ Lào.

Khi hồi hương, cựu Hoàng Thành Thái có đến viếng G̣ Công và được quư tộc họ Phạm, họ Nguyễn tiếp đón trọng thể. Dịp này các lăng miếu thờ được trùng tu, quét dọn để cựu Hoàng Thành Thái đến viếng.


Đức Giám Mục Nguyễn Bá Ṭng (1868-1949) ở Sài g̣n, kể từ thập niên 1960 trở đi, không ai là không biết hay nghe nhắc tới trường Trung học Nguyễn Bá Ṭng, Chợ Đũi. Đó là một ngôi trường lớn, khang trang, bề thế, được học sinh và phụ huynh tín nhiệm. Nguyễn Bá Ṭng là người G̣ Công, chào đời năm 1868 trong một gia đ́nh Công giáo nghèo. Lúc nhỏ, cậu bé Nguyễn Bá Ṭng được các cố đạo dạy dỗ trong các trường nhà ḍng, rồi đưa thẳng vào liều chủng viện Sài g̣n.

Năm 1896, Ngài được phong Linh mục, và được bổ làm thơ kư tại Toà giám mục Sài g̣n đến năm 1916. Sau đó, cha Nguyễn Bá Ṭng được đổi ra cai quản họ đạo Bà Rịa, rồi trở về Tân Định. Trong thời gian cai quản họ đạo Tân Định, nhiều công tŕnh phúc lợi của đạo và đời do Ngài thực hiện, được dân chúng địa phương nhớ ơn. Ngoài công việc chánh là dẫn dắt con chiên, cha Nguyễn Bá Ṭng c̣n hoạt động trong lănh vực văn hoá, xă hội: coi nhà in, giúp đỡ người nghèo, trẻ em mồ côi. Năm 1932, Ngài qua La Mă thọ phong giám mục, rồi hồi hương, ra Phát Diệm làm phụ tá cho giám mục Pháp Marcou.

Khi thế chiến thứ hai sắp bùng nổ, Toàn quyền Decoux nhân danh “chánh phủ Pháp tặng cho Ngài “Bắc đẩu bội tinh” để lôi kéo người Công giáo trung thành với Pháp, nhưng Ngài cương quyết xin hồi hưu. Năm đó (1944), Ngài đă 76 buổi. Giám mục Nguyễn Bá Ṭng mất năm 1949, thọ 81 tuổi. Đức Giám mục Nguyễn Bá Ṭng là một vị chân tu, đóng góp nhiều công sức cho giáo hội, cứu giúp đồng bào nghèo khổ và trẻ mồ côi. Ngài là ân nhân của những kẻ bất hạnh không phân biệt lương giáo.

Một nhà văn tiền chiến khác ở G̣ Công là ông Hồ Văn Hiến (1900-1957), bút hiệu Viên Hoành, em ruột của nhà văn Hồ Biểu Chánh. Bút danh Viên Hoành là do xáo trộn mấy chữ trong tên họ ông. Viên Hoành viết báo đồng thời với các ông Nguyễn Chánh Sắt, Nguyễn Viên Kiều, Lê Hoẵng Mưu, Trương Duy Toàn, Đặng Thúc Liêng... Tên tuổi ông xuất hiện trên các báo: Nông Cổ Mím Đàm, Lục Tỉnh Tân Văn, Đông Pháp thời báo, Trung Lập Báo, Công Luận...Sau khi Pháp trở lại Việt nam, Viên Hoành cũng ra bưng theo kháng chiến, nhưng biết rỏ thủ đoạn của Việt Minh, nên ông trở ra thành. Thời gian này, Viên Hoành cộng tác với các báo: Tiếng Dội, Dân Quyền, Trời Nam...

Nhà báo Viên Hoành là người sống có t́nh nghĩa với anh em bè bạn. Ông có cuộc sống b́nh dị, có chữ viết đẹp, văn chương trong sáng, trọng đạo lư được nhiều người quư trọng. Nhà báo Viên Hoành mất ngày 7-12-1957, hưởng dương 57 tuổi. Ngoài ra thuở đó c̣n có ông Lê Sum (Trường Mậu) từng là chủ bút “Công Luận Báo”. Lê Sum việt báo đồng thời và cũng là bạn của các ông Nguyễn Từ Thức, Lương Khắc Ninh, Nguyễn Viên Kiều...


Phú hộ ở Mỹ Tho

Cũng thuyết “địa linh nhân kiệt” đă cắt nghĩa tại sao làng Điều Hoà ở Mỹ Tho lại có nhiều vị Đốc phủ sứ nhứt Nam Kỳ. Đó là quê hương của các ông Đốc phủ sứ Nguyễn Văn Thâm, Phủ Lê Minh Tiên, Phủ Lê Văn Mầu, Phủ Lê Công Sủng (thân phụ công tử Phước George).

Ông Phủ Nguyễn Văn Kiên sinh năm 1878 lại làng Điều Hoà Mỹ Tho, thuở nhỏ theo học trường Le Myre de Vilers, rồi sau tiếp tục lên Sài g̣n theo học trường thông ngôn tức “College des Stagiaires”. Những thập niên cuối thế kỷ 19, Pháp mở trường thông ngôn có mục đích đào tạo lớp người công chức bản xứ, nên họ hàng nâng đỡ, cấp học bổng để theo học. Nhiều gia đ́nh nghèo, nhưng có con hiếu học, chỉ vài năm sau trở thành thầy kư, thầy thông, rồi từ từ leo lên hàng phủ, huyện cũng dễ dàng. Tốt nghiệp năm 1898, ông Kiên lần lượt thăng huyện, rồi phủ và từng ngồi chủ quận ở các quận Thủ Thừa, B́nh Phước (Tầm Vu) thuộc tỉnh Tân An và Ô Môn thuộc tỉnh Cần Thơ.

Ông Phủ Nguyễn Văn Thâm sinh năm 1882, sau khi tốt nghiệp tại trường Mỹ Tho, ông lên Sài g̣n, thi vô trường lớn Chasseloup Laubat. Năm 1900, ông ra trường làm thư kư tập sự tại dinh Thống đốc (c̣n gọi Soái phủ), rồi đổi ra làm đại lư hành chánh (như Quận trưởng) tại các tỉnh Sa Đốc, Tân An, Trà Vinh... tới năm 1935 th́ về hưu với nấc thang chót của quan trường ngạch thuộc địa: Đốc phủ sứ.

Các ông Lê Minh Tiên, ông Lê Văn Mầu, dân cố cựu ở Mỹ Tho Vĩnh Long đều nghe danh tiếng về sự giàu có. Riêng ông Phủ Lê Văn Mầu, đương thời làm chủ trọn cù lao Rồng trước chợ Mỹ Tho. Cù lao Rồng, tên chữ là Long Châu, do vua Gia Long đặt ra, nằm án ngữ trước châu thành Mỹ Tho, dài 2 cây số. Thời Pháp thuộc, chỗ này là nơi an trí người bịnh cùi. Sau Trần Bá Lộc, ông Đốc phủ Mâu có lẽ là người giàu nhứt nh́ trong tỉnh Mỹ Tho. Theo dư luận những vị cao niên kể lại cho biết giai thoại “ác lai ác báo”. Đó là sự nghiệp của hai cha con Tổng đốc Trần Bá Lộc và con là Trần Bá Thọ (Hội đồng quản hạt, kiêm Tổng đốc hàm). Nguyên vào năm 1876, Trần Bá Lộc có mua trọn cù lao Dài, c̣n gọi là cù lao Ngũ Hiệp hay cù lao “Năm Thôn” (sau này là xă Quái Thiện, quận Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long). Sở dĩ gọi “Cù lao Năm Thôn” v́ trên cù lao này có 5 ấp: Thanh B́nh, Thanh Lương, Phù Thới, Thới B́nh... Cù lao này, hồi Pháp mới chiếm được Nam Kỳ (1872) có bán cho hai Đại uư Hải Quân giải ngủ là Brou và Taillefer với giá tượng trưng chỉ có 3000 quan (Francs). Hàng năm Taillefer và Brou phải trả thêm 3180 quan (Francs) như tiền thuế và phải trả măn đời.

 

Phú hộ ở Tân An


Tân An là một tỉnh nhỏ, đất nhiều phèn, nhưng là chỗ khởi nghiệp của ông Huyện Sĩ (Lê Phát Đạt), nhà giàu nhứt Nam Kỳ, được dư luận gọi là “Thiên hạ đệ nhứt gia”.

Nam Phương Hoàng hậu là con gái thứ của ông bà Nguyễn Hữu Hào, người quê quán tại G̣ Công. Ông Hào sinh trong một gia đ́nh đại điền chủ, có đạo Công giáo, từng du học bên Pháp, đậu Tú tài toàn phần. Sinh thời, ruộng đất của gia đ́nh ông Hào rải rác khắp các tỉnh Nam Kỳ. Tại quận Long Mỹ (1928) thuộc tỉnh Rạch Giá, sau sáp nhập vào tỉnh Cần Thơ, có 1000 mẫu ruộng thuộc gia đ́nh Nguyễn Hữu Hào, v́ thế ông chọn địa danh “Long Mỹ” làm tước phong cho ḿnh: Long Mỹ Quận công. Bà Nguyễn Hữu Hào tên thật là Lê Thị Bính, con gái thứ của ông Huyện Sĩ Lê Phát Đạt và bà Huỳnh Thị Tài, chào đời tại Tân An, khi ông Huyện Sĩ làm thông ngôn tại đây. Bà Lê Thị Bính cũng là một đại điền chủ cùng với các anh như Lê Phát Thanh, Lê Phát Vĩnh, Lê Phát Tân... làm chủ nhiều đất đai thuộc quận Đức Hoà, Đức Huệ, và một phần lớn đất ruộng nay thuộc Đồng Tháp Mười. Ông Huyện Sĩ cũng là Hội đồng quản hạt Nam Kỳ từ năm 1880. Theo dư luận của người địa phương, ngôi nhà lầu đồ sộ của ông Huyện Sĩ tại Tân An (nằm gần ngă ba sông Tân An và Bảo Định) cất trên thế đất hàm rồng, do đó gia đ́nh ông Huyện Sĩ giàu có lớn và danh vọng nhiều đời. Trưởng nam ông Huyện Sĩ là ông Lê Phát An, có tên Tây là Denis Lê Phát An, là một đại quư tộc đúng nghĩa. Lê Phát An được Hoàng đế Bảo Đại phong lược An Định Vương, tước hiệu cao quư nhứt của triều đ́nh và chỉ phong cho một người duy nhứt ở Nam Kỳ thuộc hàng dân giă. Lê Phát An là cậu ruột của Nam Phương Hoàng hậu.

Năm 1934, nhân dịp gả cháu gái của ḿnh về làm Hoàng hậu ở Huế, Lê Phát An có tặng cho cô Nguyễn Thị Hữu Lan một số tiền là một triệu đồng (tiền mặt) để làm của hồi môn. Gia đ́nh Nguyễn Thị Hữu Lan giàu hơn cả Bảo Đại. Trong đời làm vua của Hoàng đế Bảo Đại, ông xài tiền của vợ nhiều hơn tiền của hoàng gia. Cô Mariette Jeannelte Nguyễn Thị Hữu Lan sinh ngày 4-12-1914 tại Cầu Kho, Sài g̣n. Lúc nhỏ, cô Lan được gia đ́nh gởi theo học trường nhà ḍng dành riêng cho các gia đ́nh Công giáo quư phái tại Sài g̣n. Năm 17 tuổi (1926), cô Lan qua Pháp du học tại trường Couvent des Oiseaux. Năm 1932, cô Lan tốt nghiệp Tú tài toàn phần và có ư định trở về Việt nam nghỉ hè, trước khi trở qua học tiếp đại học Luật khoa. Trong dịp này, cô Lan gặp gỡ vị Hoàng đế trẻ tuổi, đẹp trai Bảo Đại.

Ngày 6-2-1934, năm Bảo Đại thứ 9, lễ cưới cô Nguyễn Thị Hữu Lan diễn ra tại điện Kiến Trung ở Huế, và lễ tấn phong Hoàng hậu diễn ra tại điện Dưỡng Tâm. “Nam Phương” mỹ danh hoàng hậu có nghĩa là “hương thơm từ phía Nam” do Phạm Quỳnh đặt ra. Bà Nam Phương là một phụ nữ xinh đẹp, có gương mặt phúc hậu, mắt phượng, nhỏ, nhưng thuộc hạng quư phái, tính t́nh b́nh dân. Trước khi nhận làm vợ của Hoàng đế Bảo Đại, bà có một yêu cầu “Khi về nhà chồng bà sẽ giúp chồng cai trị việc nước như một người cố vấn thân cận”.

Lần lượt Nam Phương Hoàng hậu đă hạ sinh:

-                      Ngày 10-12-1936 bà hạ sinh hoàng tử Bảo Long. Triều đ́nh bắn mấy phát súng đại bác để chào mừng.

-                      Ngày 1-5-1937, công chúa Phương Mai chào đời.

-                      Ngày 3-11-1938, công chúa Phương Dung chào đời.

-                      Ngày 5-2-1942, công chúa Phương Liên chào đời.

Năm 1934, bà Nam Phương cùng 3 con (chưa sinh Phương Liên) tháp tùng Hoàng đế Bảo Đại qua thăm nước Pháp. Nhân dịp này bà có ghé La Mă và được Đức Giáo Hoàng tiếp kiến (Lúc đó là Giáo Hoàng Le Pape). Hàng năm, triều đ́nh đều có cử hành lễ sinh nhựt của bà Nam Phương gọi là “Lễ Trường Hỷ”. Hơn một thập niên sau ngày cưới, gia đ́nh Hoàng đế Bảo Đại sống rất hạnh phúc.

Bà Lê Thị Bính là một người đàn bà đẹp phúc hậu, giàu có nhờ ruộng đất. thuở nhỏ cô Bính theo học trường đạo tại Sài g̣n. Sau khi thành hôn với ông Nguyễn Hữu Hào, hai vợ chồng thường sống tại biệt điện ở đường Nguyễn Du, sau này là toà Đại sứ của Đại Hàn. Thỉnh thoảng hai ông bà lên nghỉ mát ở Đà Lạt v́ ông Hào có nhiều đồn điền ở Cầu Đất. Hai ông bà Nguyễn Hữu Hào chỉ hạ sinh có hai người con gái:

- Trưởng nữ là cô Agnès Nguyễn Hữu Hào, kết hôn với Bá tước Didelol, Khâm mạng hoàng triều công thổ. Hồi năm 1995, tôi được nghe bà c̣n sống ở bên Pháp, nhưng già, điếc nên ít ai được tiếp xúc với bà.

- Thứ nữ là cô Mariette Jeannette Nguyễn Hữu Hào tức Nguyễn Thị Hữu Lan, tức Nam Phương Hoàng hậu.

Ông Hào là trong những đại điền chủ học thức, biết cách kinh doanh đồn điền. Sinh thời ông Hào có đồn điền cao su ở Biên Hoà, Bà Rịa, Đà Lạt, nhiều ruộng đất ở G̣ Công, Tân An và Rạch Giá.

Năm 1935, Hoàng đế Bảo Đại phong cho ông Nguyễn Hữu Hào “Long bội tinh” hạng nhứt, kèm lược “Long mỹ hầu” trong một buổi lễ tổ chức ở Đà Lại. Đồng thời nhà vua cũng phong cho nhạc mẫu Lê Thị Bính lược “Nhị phẩm phu nhân”. Ngày 28-6-1937, Hoàng đế Bảo Đại tặng mề đay “Kim khánh” hạng nhứt cùng mề đay “Kim tiền hạng nhứt” là huy hiệu cao nhứt của triều đ́nh cho cha vợ là ông Nguyễn Hữu Hào.  Bà Lê Thị Bính được phong “Nhứt phẩm phu nhân”.

Ngày 30-8-1937, Hoàng đế Bảo Đại sắc phong cho ông Nguyễn Hữu Hào lược “Long Mỹ Quận công”. Long Mỹ Quận công Nguyễn Hữu Hào từ trần ngày 13-9-1937, được an táng theo nghi thức tước Quận công trong một ngôi nhà mồ tráng lệ, trên một ngọn đồi gần thác Cam Ly Đà Lạt. Lăng Nguyễn Hữu Hào là do chính gia đ́nh bà Nguyễn Hữu Hào bỏ tiền ra xây cất. Lễ quy lăng được cử hành ngày 10-9-1941. Ngày đó là một biến cố lớn tại Đà Lạt khi Hoàng gia, gia quyến ông Nguyễn Hữu Hào, các quan lại cao cấp Pháp Việt, đều có mặt đông đủ trong một buổi lễ trang nghiêm tại nhà thờ Thánh Nicolas. Nhân dịp này, Nguyễn Tiến Lăng, bí thư của bà Nam Phương Hoàng hậu có viết một bài bằng tiếng Pháp đăng trên báo l”Indochine” số 58 với tựa đề: “Le Premier Monument Historique Annamité à Dalat” (Một đài kỷ niệm lịch sử đầu tiên của người Việt tại Đà Lạt).

Buổi lễ quy lăng được tổ chức dưới sự hiện diên của:

-           Hoàng đế Bảo Đại và Nam Phương Hoàng hậu.

-                      Bà Bá tước Didelot, chị ruột Hoàng hậu cùng chồng là Bá tước Didelot, Khâm mạng Hoàng triều cương thổ. Ông bà Lê Phát An, tức An Định Vương, cậu ruột Hoàng hậu.

-                      Toàn quyền Decoux và vợ là Suzane.

-                      Giám mục Cassaigne, Drapier.

-                      Khâm sứ Trung Kỳ Grandjean.

-                      Một số đông quan khách Pháp Việt...

Bà Suzanne là bạn thân của Hoàng hậu Nam Phương. Thỉnh thoảng từ Sài g̣n, bà Suzanne lên Đà Lạt và ở chơi với bà Nam Phương vài ba ngày. Bà Suzanne là người Công giáo, ngoan đạo, đóng góp nhiều tiền bạc cho giáo đường Thánh Nicolas. Trong một chuyến lên Đà Lạt thăm bà Nam Phương, bà Suzanne bị tai nạn (xe lật trên đèo Prenn) và tử nạn. Thi hài bà được chôn phía sau nhà thờ kể trên.

Tân An cũng có nhiều người giàu lớn như ông Cai Nguyên, ông Hội đồng Vận, và nhứt là gia đ́nh họ Nguyễn tại làng Tân Trụ, dược người địa phương gọi là “gia đ́nh danh giá nhứt” trong tỉnh. Dưới con mắt của người dân quê, ai giàu có, may mắn có nhiều con trai, gái ăn học thành tài, dỗ đạt ra làm quan, cũng nhờ phước đức ông bà kiếp trước ăn ở hiền lành:

Khen ai kiếp trước khéo tu,

Ngày sau con cháu vơng dù nghinh ngang.

Gia đ́nh họ Nguyễn làng Tân Trụ gồm có các ông:

Người anh cả là Nguyễn Văn Ca, làm Quận, tột bực trong ngành hành chánh tức Đốc phủ sứ, từng ngồi ghế chủ quận Ô Môn.

Người thứ hai là Nguyễn Văn Vinh, cũng học trường Chasseloup Laubat, trước làm thơ kư Phủ Thống đốc Nam Kỳ, rói được thăng huyện, đốc phủ sứ từng ngồi chủ quận nhiều nơi khắp lục tỉnh.

Em trai thứ ba Nguyễn Văn Duyên, giáo sư, du học Pháp, đỗ bằng Brevet Superieur, từng giữ nhiều chức vụ cao trong ngành giáo dục.

Hai em kế là Nguyễn Văn Liễn, Nguyễn Văn Phán đều là dược sĩ, tốt nghiệp trường Dược Hà Nội. Người em út Nguyễn Văn Khát, y sĩ Đông Dương, cùng khoá với các bác sĩ Phương Hữu Long, Nguyễn Bính (thân phụ nhà văn An Khê) ông là thân phụ của luật sư Nguyễn Văn Huyền, nguyên chủ tịch Thượng Nghị Viện thời Việt nam Cộng hoà.

 

Ông cai tổng Lê Quang Hiến ở Cao Lănh

Nhắc tới ông Cả Hiển  (về sau làm Cai tổng) ở Cao Lănh, những năm đầu thế kỷ này không ai quên được một gia đ́nh giàu có nhân hậu, Mạnh Thường Quân của các nhà văn, nhà thơ. Nhà ông lúc nào cũng dập d́u tân khách từ Lục tỉnh, Sài g̣n, miền Trung và Bắc, nơi nào cũng có khách tới viếng thăm ông Cả Hiển v́ nghe tiếng đồn về sự đăi ngộ, lịch lăm của ông. Ở địa phương, tuy chỉ giữ chức ông cả trong làng, nhưng ông giao thiệp với các nhà tai mắt, các phủ huyện, hội đồng địa hạt, quản hạt. Những năm đầu thế kỷ 20, các ông Hội đồng Nguyễn Quang Diêu, hội đồng Vị, hội đồng Nguyễn Thần Hiến... thường ghé thăm ông, bàn chuyện quốc sự. thuở đó, phong trào cầu cơ khá thịnh hành. Gia đ́nh ông trở nên một chỗ hầu đàn (cầu cơ) cho các vị phủ, huyện, hội đồng mỗi tháng vài ba dân. Dưới mé sông trước nhà ông Cả Hiển tại xă Hoà An, (Cái Tôm), Cao Lănh, lúc nào cũng có nhiều ghe hầu, ca nô tấp nập.

Một thú vui khác của ông Cả Hiển là đá gà ṇi. Nhà ông là một trại gà lớn phía sau vườn. Ông mướn riêng một người làm công chuyên môn nuôi gà đá độ. Cũng như ông Hội đồng Điếu ở Bạc Liêu, ông chủ Trước ở Rạch Gầm, nhà ông Cả Hiển cũng là một trường gà danh tiếng. Khách sành điệu tới chơi, được ông đích thân hướng dẫn ra phía sau vườn để khoe những con gà ṇi chiến, từng làm trận và chiến thắng vẻ vang. Ông có xây bội nhốt riêng, được săn sóc từng giờ, từng ngày. Nói tới “gà ṇi Cao Lănh”, người b́nh dân hay giới thích đá gà đều không quên hai câu hát ru em:

Gà nào hay cho bằng gà Cao Lănh

Gái nào bảnh cho bằng gái Tân Châu...?

Hồi trước ở Nam Kỳ, người ta thường đá gà trong những trường gà công khai, lộ thiên. Chủ trường gà thường là những người tai mắt trong làng, có quyền thế mới không bị thực dân làm khó dễ. Người Pháp cấm đá gà v́ có “Hội bảo vệ súc vật”. Trường gà lập trên một miếng đất trống, có mái che như một cái trại lớn, xung quanh có rào thưa, thấp hoặc không. Các trường gà nổi tiếng khắp Nam Kỳ như trường gà Cao Lănh (ông Cả Hiển), trường gà Cho Giữa Vĩnh Kim (chủ Trước), trường gà Bạc Liêu (Hội đồng Điếu), trường gà kinh xàng Xà No (Cần Thơ)...

Trường gà Cao Lănh có khi được tổ chức trước miếu thờ ông bà chủ cho Đỗ Công Tường. Ông Tường là người Quảng, di cư vào Cao Lănh lập nghiệp. Ông làm chức Câu đương (xử kiện) và thường hay làm phước, giúp đỡ dân nghèo. Chính ông bà xuất tiền ra lập chợ Cao Lănh, nên dân địa phương nhớ ơn, gọi là Chợ Câu Lănh (ông Tường c̣n có tên khác là Lănh). Lâu ngày, người đời sau đọc trại hai chữ “Câu Lănh” thành Cao Lănh. Trường gà này nằm phía dưới kinh thầy Cai Khâm. Vào những năm trước thế chiến thứ nhứt, biện trường gà nổi danh là ông Sáu Chỉnh, người chuyên môn làm thơ kư, ghi chép mỗi độ gà, giá liền đá, tên các người hàng xáo... và sự giao kết giữa hai bên. Ông Sáu Chỉnh sống một cuộc đời phong lưu lượng mấy mươi năm nhờ nghề làm biện trường gà. Ông Sáu Chỉnh được những người đá hàng xáo, những chủ gà tín nhiệm quyệt đối v́ sự vô tư, minh bạch của ông. Ông Cả Hiển giàu có, sống phong lưu nhân hậu. Các danh sĩ khắp lục châu nghe nức tiếng đồn, cũng tới thăm và được hậu đăi. Thi sĩ Tản Đà, khi làm báo Hữu Thanh, An Nam Tạp Chí thất bại ở Bắc Hà, vô Nam cùn kế sống. T́nh cờ gặp ông Diệp Văn Kỳ, nghĩa tế của ông Cả Hiển và được ông Kỳ rộng răi tặng cho 1.000 đồng, đem về Bắc trả nợ, rồi vô ở hẳn Sài g̣n để cộng tác với tờ báo Đông Pháp của ông Kỳ. Nhờ ông Kỳ giới thiệu, Tản Đà có dịp về Long Xuyên, Chợ Mới, Chợ Thủ... Tại đây thi sĩ núi Tản sông Đà có dịp thưởng thức nhiều món ăn ngon dặc biệt của miền Nam, như mắm ruột mà ông c̣n nhớ măi, ghi lại trong thơ văn. (“Cà xứ Nghệ, mắm Long xuyên”)

Ông Cả Hiển từng là bạn của cụ Trà Giang, phụ thân của ông Phan Văn Thiết. Nhờ cụ Trà Giang (cũng quê ở Cao Lănh) giới thiệu, ông Cả Hiển mới biết được Diệp Văn Kỳ. Sau này nhờ ông Kỳ giới thiệu (ông Kỳ là học tṛ của Nguyễn Sinh Huy khi c̣n ở Huế) mà thân phụ ông Hồ Chí Minh tức Phó bảng Nguyễn Sinh Huy, mới có dịp xuống sống ở Cao Lănh một thời gian, rồi mất và được chôn ở đó. Sau khi đậu Phó bảng, đồng khoa với cụ Phan Chu Trinh, ông Huy được bổ Tri huyện B́nh Khê. Trong lúc tại chức, ông Huy thường say rượu, đánh chết người, nên bị cách. Ông lang thang vào Sài g̣n, làm thầy thuốc và thầy bói trước chợ Bến Thành. Ngày nào ông cũng ngồi trước cửa Nam chờ đợi khách tới xem mạch, hốt thuốc và mời về nhà ăn cơm.

Có một lần, đợi măi tới chiều tối, mà không có người tới xem mạch, mời về đăi cơm, ông ta đói ră. May mắn, ông Diệp Văn Kỳ ngồi xe hơi qua đó, nhận ra thầy học cũ, mời về nhà đăi ngộ hậu hĩ, rồi c̣n mời về Cao Lănh để nhạc nha cung phụng đủ thứ. Trái với sự thêu dệt, bịa đặt của các nhà viết sử Hà Nội, cố t́nh mô tả ông Huy là một nhà “cách mạng kiên cường, bất khuất chống lại thực dân Pháp bị cách chức”, là cố t́nh nói sai sự thật. Ông Bùi Tín dẫn lại lài liệu của nhà nghiên cứu lịch sử Pháp Daniel Hémery, đăng trên tạp chí “Approchesasie” cho biết:

Bi kịch gia đ́nh tác động mạnh mẽ đến anh (Nguyễn Tất Thành). Ông Nguyễn Sinh Huy vốn nghiện rượu nặng khi c̣n ở Huế. Bà Thanh (chị ông Hồ) kể lại rằng hồi ấy cứ lên cơn thèm rượu và say rượu, là bà bị ông bố đánh bằng tay và bằng roi rất tàn nhẫn. Tháng 5-1909, ông (Huy) được bổ đi Tri huyện B́nh Khê B́nh Định khi 47 tuổi. Nửa năm sau đó, tháng Giêng năm 1910, ông (Huy) bị thi hành kỷ luật rất nặng, do đă đánh anh nông dân Tạ Đức Quang bằng roi và gậy đến mức làm cho anh này chết. Sở mật thám mở cuộc điều tra. Vụ ngộ sát xảy ra khi ông Sắc (tức Huy) say rượu. Hội đồng nhiếp chánh ở Huế lúc ấy quyết định tước mọi chức quyền Tri huyện của ông, và hạ xuống 4 bậc trong ngành quan lại. Bi kịch này hết sức nặng nề, làm đổ vỡ giấc mộng của ông Tri huyện, bị thu hồi ấn tín. Ông đi dạy học vài tháng rồi vào Lộc Ninh, đi làm “surveillant”, giám thị ở đồn điền cao su, sống ngoài lề bộ máy cai trị trong niềm lo âu, tủi nhục và thiếu thốn. Ông đă đệ đơn gởi Khâm sứ Trung Kỳ để xin việc, nói rơ ông đang sống trong cảnh túng bần”.

Nguyễn Tất Thành (tức ông Hồ) vào tháng 12-1912, gởi cho Khâm sứ Trung Kỳ bức thư, yêu cầu thương hại đến hoàn cảnh túng bấn của cha anh, và “xin Ngài Khâm Sứ” t́m cho một công việc ǵ đó ở Huế cho cha anh, dù là Thừa biện ở các bộ, hoặc làm giáo thụ cũng được, với lời lẽ như sau:

“Tôi yêu cầu Ngài vui ḷng cho cha tôi được nhận một công việc như Thừa biện ở các bộ, hoặc là huấn đạo hay giáo thụ để cha tôi sinh sống dưới sự quan tâm cao quư của Ngài. Với hy vọng rằng ḷng tột của Ngài sẽ không từ chối lời yêu cầu của một người con, chỉ biết dựa vào Ngài để làm nghĩa vụ của ḿnh. Xin Ngài Khâm sứ nhận những lời chào kính cẩn của người dân, con và kẻ tuỳ thuộc chịu ơn của Ngài”. Phía dưới kư tên: “Paul Nguyễn Tất Thành”.

 

Diệp Văn Kỳ, nhân sỹ yêu nước bị Việt Minh sát hại (1894-1945)

Trong bài này chúng tôi nhắc đến ông Diệp Văn Kỳ trước ông Diệp Văn Cương, v́ mối liên hệ gần gũi với ông Cả Hiển. Sách báo cộng sản trong nước, kẻ thù của ông Kỳ, đă thủ tiêu ông một cách dă man, mờ ám chỉ v́ họ sợ uy tín của ông, đă đưa ra một nhận xét về ông như sau: Con ông Diệp Văn Cương là Diệp Văn Kỳ, danh sĩ cận đại là bậc kỳ tài trong học giới. (“Từ điển các nhân vật lịch sử” của Nguyễn Q. Thắng, xuất bản năm 1992). Thừa hưởng huyết thống và truyền thống của cha mẹ, ông Diệp Văn Kỳ là người tánh t́nh hào phóng. Giao thiệp với bạn bè, ông tỏ ra rộng răi trong vấn đề tiền bạc. Đối với nhân viên, cộng tác viên “Đông Pháp thời báo”, ông đều trả lương hậu hĩ. Gần Tết ông c̣n tặng thêm mỗi người một tháng lương thứ 13! Sau khi tốt nghiệp trường Chasseloup-Laubat, th́ cũng vừa đúng lúc thân phụ ông là Diệp Văn Cương gặp phá sản trong việc làm ăn. Biết rơ tài năng, đức độ ông Kỳ, cụ Trà Giang, thân phụ ông Phan Văn Thiệt, về sau làm lục sự, rồi trạng sư, giới thiệu ông Kỳ với ông Cả Hiển. Cảm mến người tuổi trẻ tài cao, ông Cả Hiển gả con gái cho Diệp Văn Kỳ và chu cấp cho ông qua Pháp du học, đậu Cử nhân Luật khoa. Thời gian ở Pháp, ông Kỳ cũng tham gia các hoạt động yêu nước, chống Pháp trong đảng Lập hiến của Bùi Quang Chiêu, Dương Văn Giáo. Ông Kỳ cùng với Nguyễn Thế Truyền in truyền đơn, kêu gọi người Việt ở Pháp biểu t́nh xin ân xá cho cụ Phan Bội Châu. Ông Kỳ cũng là một trong những thành viên hoạt động hăng hái cho tờ “Việt nam hồn “ của Nguyễn Thế Truyền. Sau khi hồi hương, Diệp Văn Kỳ làm luật sư ít lâu rồi bỏ nghề, sang làm báo, cũng là do lời khuyên của cụ Trà Giang, để có cơ hội tranh đấu, binh vực đồng bào hữu hiệu hơn. Đầu tiên ông Kỳ viết cho “Nam Trung Nhật Báo” và “Đông Pháp thời báo” của Nguyễn Kim Đính. Ông Đính có người con trai là Nguyễn Kim Lượng, tuy thuộc gia đ́nh giàu có nhưng lại rất yêu nghề làm báo và nguyện sống chết với nghề. Ông Lượng về sau là một kư giả chuyên nghiệp, yêu nghề. Về sau, ông Kỳ c̣n có tờ “Thần Chung” và mua lại tờ “Đông Pháp thời báo” của Nguyễn Kim Đính. Thời gian chủ trương “Đông Pháp thời báo”, ông Kỳ có sáng kiến mời các nhà báo nổi tiếng Bắc Hà như Tản Đà, Ngô Tất Tố vào Nam hợp tác. “Đông Pháp thời báo” là tờ báo có khuynh hướng chông đối chính phủ nhưng không gay gắt lắm. Có giai thoại kể lại rằng: Một buổi chiều, Diệp Văn Kỳ đang ngồi uống nước phía trước nhà hàng Continental với các đồng nghiệp, chợt thấy thi sĩ Tản Đà vừa thả bách bộ ngang qua. Khi người bạn ngồi kế bên, chỉ cho ông Kỳ biết thi sĩ Tản Đà, ông liền bước ra, lễ phép mời tiên sinh vào nhà hàng. Sau khi biết tiên sinh Tản Đà vừa bị thất bại hai lần, khiến hai tờ “Hữu Thanh” và “An Nam Tạp Chí” đóng cửa, phải vào Nam t́m việc. Ông Kỳ liền xuất 1.000 đồng tặng Tản Đà để ông đem về Bắc trả nợ, rồi vào Nam cộng tác với tờ “Đông Pháp thời báo” của ông. Có một lần, báo sắp lên khuôn, nhưng chưa có thơ của Tản Đà gởi tới. Ông Kỳ sai người lên tận nhà trọ của Tản Đà ở Xóm Gà Gia Định lấy bài. Thi sĩ bực bội nói với người ấy:

Về nói lại với ông Kỳ: “ Mần thơ chớ có phải bửa củi đâu mà lúc nào cũng mần được!”

Một lần khác, nhân dịp Tết, ông Kỳ tặng cho mỗi nhân viên báo thông Pháp thời báo” mỗi người 200 đồng ăn Tết. (Lúc đó vàng vào khoảng 30 đồng/lượng). Có tiền, thi sĩ Tản Đà thích chơi ngông: mướn chiếc xe du lịch Delahay, sang nhứt lúc đó để chở ông dạo khắp Sài g̣n, Chợ Lớn, v́ ông c̣n được ông Kỳ tặng riêng thêm 5 đồng bạc nữa. Ông để 3 đồng ra bưu điện mua chi phiếu gởi về Bắc cho bạn là Ngô Tất Tố. C̣n hai đồng, ông định trả tiền thuê xe và mần ông bạn thơ là Tùng Lâm Lê Cương Phụng mua rượu, thịt gà về nhậu đón giao thừa. Ông Tùng Lâm đi mua rượu, thịt. Trên đường về, gặp một toán đánh bài giữa đường, đánh lộn. Cụ Tùng Lâm đứng lại coi và bị nạn. Hai toán đánh lộn bị linh bắt đem về bót giam, trong đó có Tùng Lâm. Dù biện hộ rằng ḿnh chỉ là kẻ bàng quan, đi mua rượu họ cũng không tha. Tại chỗ tạm giam, cụ Tùng Lâm một ḿnh lấy rượu thịt, ăn nhậu đền say mèm, quên hẳn ông bạn thơ Tản Đà. Ở nhà, Tản Đà đợi cho đến giao thừa, không thấy bạn về, cũng buồn t́nh, lốc cạn một bầu rượu, rồi ngủ như chết tới sáng mùng Một. Khoảng 11 giờ sáng mùng Một Tết, lính gọi cụ Tùng Lâm dậy để tha, v́ ông Diệp Văn Kỳ hay tin cụ bị bắt, liền tới nơi, xin bảo lănh đường về đối ẩm đón Xuân với thi sĩ tản Đà. Tờ “Đông Pháp Thời Báo” tới năm 1928 th́ đ́nh bản. Diệp Văn Kỳ cùng với giáo sư Nguyễn Văn Bá lập tờ “Thần Chung”. Tờ báo này biểu lộ ư chí quốc gia, dân tộc nhiều nhứt và rơ rệt nhứt. Do đó thực dân Pháp rất khó chịu và gây khó dễ cho họ. Kư giả Tế Xuyên nhắc đền tờ “Thần Chung” như sau: Tờ Thần Chung của Diệp Văn Kỳ không sống dai, tuy nhiên được tổ chức châu đáo. Bộ biên tập gồm những người có năng lực, phân công rơ rệt, với nhiều cộng sự viên xứng đáng và một ban giám đốc có tinh thần khoa học, trong khi các tờ báo khác c̣n trong t́nh trạng luộm thuộm, tiểu công nghệ và chỉ huy theo tinh thần gia đ́nh”. (Lịch sử báo chí Việt nam” của Huỳnh Văn Ṭng, trang 150).

Năm 1936, ông Diệp tích cực tham gia phong trào “Đông Dương Đại Hội” với nhóm La Lutte. Chỉ mấy tháng sau, phong trào bị Pháp trở mặt, đàn áp. Ông Kỳ bị lùng bắt phải lẩn trốn nhiều nơi. Phần này xin xem thêm chi tiết nơi bài “Phong Trào Đông Dương đại hội năm 1935 tại Nam Kỳ”, cùng tác giả. Ở đây chúng tôi nhắc qua việc ông Kỳ bị thực dân bắt giao trả về nguyên quán ở Huế như sau: “Nhờ anh em cho hay sớm, Diệp Văn Kỳ xuống Mỹ Tho tạm trú tại nhà một người bạn, chính bà Diệp Văn Kỳ cũng không biết chỗ ở. Tôi (kư giả Nam Đ́nh) được anh em phú thác công việc hên lạc giữa bà Kỳ và nơi ông trốn. Bà Kỳ gởi quần áo và đồ đạc để tôi đưa lại ông Kỳ tạm dùng trong lúc trốn tránh mật thám Pháp. Anh em nghĩ rằng không thể giấu ông Kỳ lâu một chỗ măi được, phải t́m cách đưa ông Kỳ đi nơi khác... nên tổ chức mướn “xe lô”, và may cho Diệp Văn Kỳ một bộ đồ “Đức Cha”.

“Xe lô” đưa Diệp Văn Kỳ và các bạn từ Mỹ Tho về Chợ Lớn, rồi từ Chợ Lớn qua Bà Chiểu. Anh em hướng dẫn sôp-phơ đi đường Lăng Cha Cả cho kín đáo hơn. Nhưng... khi xe lô đền Lăng Cha Cả, th́ “ăn banh” (en cas de pan). Anh em vô t́nh, không nghĩ rằng anh sốp-phơ xe lô phản bội, giả đ̣ “xe ăn banh” nằm giữa đường, đặng anh quay về Chợ Lớn, mật báo với tụi lính kín Pháp. Sôp-phơ bán Diệp Văn Kỳ cho mật thám Chợ Lớn. Thế là Diệp Văn Kỳ bị bắt khi xe ra khỏi Lăng Cha Cả. C̣ Perrech được khen ngợi. Diệp Văn Kỳ bị trục xuất về nguyên quán ở Huế”.

Tháng Tám 1945, Việt Minh cướp chính quyền ở Nam Bộ. Họ lùng sục t́m bắt những nhà ái quốc có uy tín, khác chính kiến, nhóm Đệ tứ, đảng Lập hiến để thủ tiêu. Lần này ông Kỳ cũng giả làm thầy ḍng, trốn trong nhà thờ Tràng Bàng, nhưng cũng bị Việt Minh phát giác, rồi bắt dẫn đi, hạ sát trong đêm tối.

Khi ông Phó bảng Nguyễn Sinh Huy (c̣n có tên Sắc) mất chức Tri huyện, lang bạt giang hồ vào Sài g̣n, t́m kế sinh nhai, t́nh cờ gặp lại người học tṛ mà ông đă dậy hồi 20 năm trước ở Huế. Nhớ ân sư, người học tṛ có nghĩa ấy là Diệp Văn Kỳ mới rước ông thầy gặp bước gian truân về nhà nuôi dưỡng. Sau đó, ông Kỳ mới đưa ông Phó bảng về Cao Lănh, để chào nhạc gia là ông điền chủ Lê Quang Hiển. Từ đó, thỉnh thoảng ông Phó bảng lên xuống Sài g̣n, để chơi với ông Diệp Văn Cương, sui gia của ông Cả Hiển. Thương t́nh người thầy học cũ của con, ông Diệp Văn Cương nhiều lần giúp đỡ tiền bạc cho ông Phó bảng. Tánh nào tật nấy, có tiền, rảnh rỗi, ông Phó bảng lại say sưa như trước. Một lần lên Sài g̣n, uống rượu say mèm, bất kể trời đất, ông Phó bảng nằm lăn ra đường, bị lính hành hung, nên la ó om ṣm. Nghe tin ấy, ông Cương tới năn nỉ ông cũng không tỉnh. Gặp lúc ông Cả Hiền lên Sài g̣n thăm con gái và rể, thấy vậy liền kề tai nói nhỏ với ông Phó bảng Huy:

- Ngày xưa Tôn Tẩn giả điên, ăn cứt mà người ta c̣n biết, c̣n bây giờ ông có giả say, nằm đây th́ thiên hạ cũng biết ông từng là Phó bảng, Tri huyện bị cách.

Nghe xong, Phó bảng Huy đứng dậy đi về nhà. Chính lúc đang sa cơ thất thế đó, cậu Paul Nguyễn Tất Thành có mặt trong Nam. Cậu mới viết thư khẩn thiết xin quan Khâm sứ Trung kỳ rộng lượng kiếm cho cha cậu một chân thừa biện, huấn đạo hay giáo thụ để độ nhật. Lá đơn ấy không được đáp ứng, làm cho cậu bồi tàu Nguyễn Tất Thành có mối hận ḷng. Sau đó, khi qua Pháp, cậu bồi tàu liền viết thư lạy lục Tổng Thống Pháp cho ḿnh được đặc cách vào học “Trường Thuộc địa” để ra làm quan cho Pháp. Đơn xin lại bị bác v́ tŕnh độ cậu quá kém. Hận ḷng chồng chất, công danh bế tắc, cậu Nguyễn Tất Thành bèn xoay sang hướng khác: hoạt động chống Pháp và đi Liên xô để t́m “đường cứu nước Liên xô”. Sau vụ đó, ông Phó bảng Huy về Cao Lănh và ở trong chùa Hoà Long. Chùa đó, người địa phương gọi là “miếu trời sanh”. Lúc này ông sống về nghề hết thuốc, giảng kinh sách, làm thầy bói. Có lúc ông lên núi Thất Sơn để giảng kinh Phật cho các nhà sư tu ẩn. Gặp vận bĩ, tới đâu cũng không được ngưỡng mộ. Sau cùng, ông Phó bảng về sống chung với một ông già độc thân tại làng Hoà An (Cái Tôm) tên là Lê Văn Giáo. Ông Phó bảng dạy ông Giáo làm thuốc tễ, thuốc tán để độ nhật. Có lần, ông Phó bảng làm đơn, tự ḿnh đến quận đường Cao Lănh để xin ông chủ quận Lê Quang Tường cho phép hành nghề đông y. Đợi lâu, không những không được tiếp mà ông Phó bảng c̣n bị lính xua đuổi bực ḿnh bỏ về.

Tháng 11 năm 1929, ông Phó bảng Nguyễn Sinh Huy bị bịnh và mất. Thương người tha phương lỡ vận, các thân hào nhân sĩ Cao Lănh chung góp tiền bạc để mai táng ông Huy: ông Hội đồng Nguyễn Thành Vị tặng cho một quan tài, ông Cả Hiền, ông Nguyễn Văn Sanh ở Hoà An lo chôn cất cạnh “Miếu trời sanh”. Mấy năm sau, người con gái ông Phó bảng hay tin, lặn lội t́m tới nơi, làm lễ thành phục, thọ tang. Người đó là bà Nguyễn Thị Thanh, chị ông Hồ Chí Minh sau này. C̣n ông Hồ, từ ngày đi biệt tích giang hồ mà các sử gia Hà Nội gọi là “Bác Hồ đi t́m đường cứu nước... Pháp” th́ không bao giờ trở lại thăm mộ cha một lần!

 

Những phú hộ và nhân vật nổi danh ở Bến Tre

Tỉnh Bến Tre gồm 3 cù lao lớn: Cù lao Minh, cù lao Bảo, cù lao An Hoá.

Làng Đại Điền nằm trên cù lao Minh, là nơi đất đai trù phú, nước ngọt quanh năm, ruộng vườn tươi tốt. Quận Mỏ Cày là quê hương của nhiều nhà giàu thuở xưa của Nam Kỳ. Những người được gia đ́nh cho qua Pháp du học đợt đầu tiên là các ông Bùi Quang Chiêu, Dương Văn Giáo, Dương Văn Tây. Thuộc hàng cự phú Đại Điền người ta thường kể ông Hương Liêm (Huỳnh Ngọc Khiêm), ông Phủ Kiểng (Nguyễn Duy H́nh), ông Hội đồng Hoài, dân địa phương quen gọi ông Phó Hoài v́ trước ông có làm Phó Tổng. Không rơ làng Đa Phước cuối thế kỷ 19 và Đại Điền đầu thế kỷ 20, là cuộc đất có hàm rồng hay long mạch mà phát sinh nhiều nhà giàu lớn, con cháu đỗ đại, rân rất nhiều thế hệ.

Theo lời thân mẫu nhà văn Xuân Vũ, là người cố cựu tại địa phương, năm nay 87 tuổi, c̣n minh mẫn, kể lại nhiều chi tiết về nguồn gốc sự giàu có của các gia đ́nh kể trên.

Dương Văn Giáo thuở nhỏ học trường Chasseloup, rồi gặp thế chiến thứ nhứt xảy ra (1914- 1918), mới xin làm thông ngôn cho toán lính thợ qua Âu Châu chiến đấu, tiếp liệu cho mặt trận của Pháp chống Đức. Qua Pháp, ông Giáo được thăng cấp trung uư, có chiến công được nhiều huy chương của Pháp. Chiến tranh chấm dứt, ông xin ở lại, theo học trường thuộc địa (École Coloniale) ngành Luật. Tốt nghiệp, ông Giáo được bổ làm trạng sư, nhập Pháp tịch, lại gia nhập hội Nhân Quyền, cho nên dầu phải đi bộ chớ không bao giờ ngồi xe kéo (v́ luật Nhân Quyền không cho phép). Ông Giáo có người anh tên Tây, v́ lúc nhỏ ông Giáo c̣n có tên Du (Tây Du). Ở Pháp, luật sư Giáo có vợ đầm, nhưng là người tích cực tranh đấu cho nền độc lập nước nhà. Lúc ở Pháp, Giáo là bạn đồng học với ông Nehru (Thủ tướng Ấn Độ sau này) và Hoàng thân Thái Lan Luang Pradit, về sau làm Bộ trưởng trong nội các Thái năm 1945. Ông Nehru từng ngỏ lời muốn gả em gái cho Dương Văn Giáo nhưng v́ ông Giáo đă có vợ. Ông Dương Văn Giáo sinh năm 1888 tại Đa Phước Mỏ Cày, đậu Tiến sĩ Luật năm 1926, từng tranh đấu với các ông Bùi Quang Chiêu, Diệp Văn Kỳ, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh chống lại chế độ cai trị tàn ác của người Pháp tại Đông Dương. Ông Dương Văn Giáo cũng là một trong những người sáng lập đảng Lập hiến với Bùi Quang Chiêu, Trần Văn Khá...

Tại Pháp nhiều lần ông Dương Văn Giáo cùng với ông Nguyễn Thế Truyền đi diễn thuyết nhiều nơi, hô hào, cổ vơ cho tự do dân chủ ở Việt nam, băi bỏ chế độ thuộc địa. Về Sài g̣n, luật sư Dương Văn Giáo tiếp tục tranh đấu chống chế độ thực dân bằng cách viết báo chí trích đường lối cai trị độc tài, thiếu tự do của Pháp, nên bị bắt cầm tù như Tạ Thu Thâu.

Về sau, ông Giáo bỏ vợ đầm kết hôn với con gái bà Huyện Xây (Lâm Ngọc Thanh) ở Vũng Liêm. Cô này tên “cô Hai Suzane”, và được nhạc mẫu mua cho một biệt thự lớn như lâu đài ở đường Paul Blanchy (Hai Bà Trưng sau này).

Về việc ông Dương Văn Giáo vượt ngục, cụ Trần Văn Ân thuật lại như sau: ông Giáo có đời tư rất cẩu thả, song vào tù lại có khí phách và ḷng thương bạn. Lúc ấy luật sư Giáo bị kêu án 8 năm khổ sai, nhưng một gián điệp Nhựt, chủ Dainam Koosi Matushista, tổ chức cho một phụ nữ Nhựt tên Sinna (người t́nh của ông Giáo) lập kế cứu ông ta ra khỏi khám. Nguyên ông Giáo giả bịnh, xin nằm dưỡng đường Grall. Trong khi chờ đợi mổ, có một thiếu nữ Nhựt (Sinna) vào xin cho ông Giáo từ pḥng bịnh qua pḥng mổ. Nhưng sau đó, khi cô y tá và người lính (dẫn ông Giáo) đứng đợi bên ngoài một chút, th́ thấy có một sĩ quan Nhựt, mang lon Đại uư, đeo kính mát, đầu đội mũ che sụp mí tóc, thong thả bước ra. Người lính đứng chào, và ông sĩ quan này xuống đường chen ra phía cửa sau nhà thương có chiếc xe bít-bùng đợi sẵn. Khi người lính và cô y tá bên ngoài chờ lâu, xô cửa bước vô, th́ thấy ông Giáo để bộ quần áo cũ tại đó, và biết ràng vị quan ba Nhật hồi năy chính là ông Giáo.

Ông Giáo được Nhựt bố trí lên máy bay tại Tân Sơn Nhất để qua Thái Lan, được bạn cũ là Hoàng thân Luang Pradit tiếp đón niềm nở. Năm 1945, ông Giáo cùng nhiều người yêu nước khác bị Việt Minh thủ tiêu bằng cách trấn nước tại Sông Ḷng Sông Phan Thiết”.

Trở lại những cự phú làng Đại Điền ở Bến Tre. Trước khi có cuộc chiến tranh Việt Pháp 1945-54, những ai có dịp ngồi xe trên đường trải đá từ Cái Nhúm, Cái Mơn, Mỏ Cày ra tới bến Bắc Hàm Luông, chắc sẽ lấy làm ngạc nhiên v́ ở đây có nhiều ngôi nhà lầu nhà trệt đồ sộ, cất trên nền đúc cao tới ngực, chẳng khác dinh Tham biện (Tỉnh trưởng) hay toà Đốc lư các thành phố lớn. Người giàu nhứt ở đây là ông Hương Liêm, tên thật Huỳnh Ngọc Khiêm. Theo lời kể th́ hồi nhỏ, gia đ́nh Hương Liêm sống nghèo khổ, làm lụng vất vả hàng ngày nhưng không đủ ăn. Thân phụ ông Liêm là người tính t́nh cần mẫn, lam lũ nhưng biết tiện cặn, lại siêng năng. Những thập niên cuối thế kỷ 19, làng Đại Điền c̣n nhiều ruộng đất hoang, nhiều g̣ đống, cây cối um tùm.

Dưới con mắt của người dân quê, những chỗ đó có nhiều ma quái Đêm đêm những bóng ma chập chờn, ít ai dám cất nhà chỗ xa xôi vắng vẻ, chỉ trừ những người quá nghèo, liều mạng. Dịp may một gia đ́nh phú hộ, muốn bán một trong những miếng đất hoang đầy yêu ma phá khuấy đó với giá rẻ mạt. Ông Liêm t́m tới mua chịu, chỉ trả một số tiền nhỏ, nhưng chủ đất vui vẻ bán và c̣n nói với người trong nhà:

- Thằng cha Liêm này muốn chết thay cho ḿnh.

Cất nhà xong, đêm đêm ông Liêm thường thấy có hai con quỷ bưng chảo lửa trước sân mấy dân, nhưng ông không sợ. Không ngờ rằng đó là một cuộc đất quư, một loại quư điền. Mấy năm liền, ông Liêm làm ruộng trúng mùa liên tiếp. Người ở trong đất này làm ăn phát đạt như diều gặp gió. Có tiền, ông Liêm mua thêm ruộng đất, làm ăn gặp may mắn luôn, không bị ma quỷ như lời đồn.

Người đ̣i thường nói: “Ai giàu ba họ, ai khó ba đời”. Gia đ́nh ông Hương Liêm vượt ra ngoài thông lệ đó. Con cháu ông vẫn giữ các chức Hội đồng, Cai tổng, Tri huyện cha truyền con nối đến 4 thế hệ, vẫn c̣n rân rát. Nếu không có Việt Minh nổi dậy, cướp chính quyền, tiêu diệt các thành phần đại điền chủ, chắc chắn bây giờ ḍng họ ấy vẫn c̣n nhiều người giàu có, thế lực. Vốn tánh kiệm ước, giàu nhưng không khoe khoang, xài phí, ăn chơi xa xỉ, ông Hương Liêm sống rất giản dị. Nhà của ông là loại nhà tiêu biểu cho thế hệ giao thời cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Đó là một căn nhà lớn, gồm 48 cột bằng căm xe, đen mun, bóng láng. Mỗi cây cột một người ôm không xuể. Nguyên bộ sườn nhà không dùng một cây đinh. Năm 1945, Việt Minh ra lịnh “tiêu thổ kháng chiến”, chúng buộc phải dỡ mái nhà, đồ đạc th́ tản cư, nhưng chưa kịp đốt. Nếu c̣n nguyên vẹn, ngày nay ngôi nhà của ông Hương Liêm có thể coi như một công tŕnh kiến trúc độc đáo của Nam Kỳ thuở trước.

Ông Hương Liêm có nhiều người con, nhưng chúng tôi không nhớ rơ có bao nhiêu. Chỉ biết ông có hai người con đều làm Hội đồng. Người thứ nhứt là Hội đồng Hổ, không con. Người thứ hai là Hội đồng Cử. Về sau, một người con của Hội đồng Cử làm Cai tổng, dân dịa phương quen gọi là Cao tổng Thiến. Về phần con gái, chỉ nhớ có hai bà: bà thứ 10 gọi là Mười Tán, có chồng làm Thông biện ở Bến Tre. Bà kế là Nhứt Thịnh, có chồng là Cai tổng Trị, sanh được hai người con là Hai Xiêm và Ba Tây.

Trong số các con ông Hương Liêm, có người làm sui với ông Phủ Bảy Lê Quang Liêm ở G̣ Công.

Một người giàu có nổi tiếng khác ở làng Đại Điền là ông Hội đồng Hoài, dân chúng quen gọi ông Phó Hoài, v́ trước khi làm Hội đồng, ông có làm Phó tổng. Ông Hội đồng Hoài nổi tiếng hống hách, ai cũng sợ như ông vua một cơi. Ông coi dân chúng trong làng như tôi tớ, kẻ ăn người ở trong nhà, muốn bắt ai làm ǵ cũng được, không ai dám lừ chối, trốn tránh hay chống đối. Câu “phép vua thua lệ làng” ở đây chưa đúng nghĩa v́ làng xă cũng phải sợ ông. Ông làm Phó tổng, trên làng. Về sau, ông làm Hội đồng coi như cha mẹ cả quận. Nhà ông Hội đồng Hoài, chỉ cách nhà của nhà văn Xuân Vũ một cánh đồng. Ngói lợp nhà của ông sau 15 năm vẫn c̣n đỏ au như mới. Ở xa nh́n thấy toàn thể ngôi nhà, lẫm lúa, tường cao, hàng rào sắt như một dinh co đồ sộ trong truyện thần tiên. Dân Bến Tre và dân chúng sống hai bên bờ sông Tiền Giang như Mỹ Tho, Vĩnh Long, Trà Vinh, đâu dâu cũng nghe tiếng ông. Không ai dám nói đến tên ông là “Hoài”. Mỗi khi cần nhắc đến chữ ấy, người ta phải nói trại ra như sau:

- Đi đâu mà đi “hười” vậy?

- Sao cứ ăn “hười”, không chịu làm?

Có một giai thoại kể lại rằng, để dằn mặt ông Hội đồng phách lối, có một vơ sư, giả làm người không biết uy quyền của ông, t́m cách gây sự, nếu cần, đánh một trận cho bơ ghét. Theo người hiểu chuyện kể lại rằng ông vơ sư ấy là người Tàu lai, thuộc hàng cháu chắt của hai tướng Tàu là Tập Đ́nh và Lư Tài của chúa Nguyễn Ánh. Trước kia họ là tướng của quân Tây Sơn. Một hôm vơ sư ấy cỡi ngựa đi ngang qua trước nhà ông Hội đồng Hoài. Cái lục lạc đeo ở cổ con ngựa cứ lắc lia, kêu lớn như khiêu khích. Mấy đứa gia nhân đều chạy ra đường coi ai dám cả gan trêu chọc ông Phó. Một đứa hất hàm hỏi:

- Bộ không biết đây là nhà của ai sao? Tại sao không xuống ngựa, lại làm cái lục lạc kêu lớn không để ông ngủ?

- Bẩm, tôi không biết. - Vơ sư trả lời.

- Ừ! Để tôi vô mời ông tôi ra cho biết.

Nói xong tên đầy tớ liền chạy vô nhà thưa lại. Ông Hội đồng Hoài ung dung, hách dịch bước ra hỏi:

- Ê! Tên kia, làm ǵ lắc cái lục lạc kêu lớn quá vậy, không để ai ngủ hả?

- Dạ, tôi đâu biết. Đây là đường đi, tôi cứ đi. C̣n con ngựa tôi lắc cái lục lạc là tại nó,chớ đâu phải tại tôi.

Thấy cách trả lời cứng cỏi, không khép nép sợ sệt, Hội đồng Hoài tức giận:

- Xuống đây biểu?

Như chỉ đợi dịp này, ông vơ sư nhảy thóc xuống ngựa, tiến tới ông Hội đồng Hoài không chút khúm núm, lo sợ. Đang cơn nóng giận, ông Hội đồng Hoài liền tát người ấy một bạt tay. Không ngờ, vơ sư né qua một bên, mà c̣n sử dụng miếng vơ độc hiểm, quật ông Hội đồng té nhào. Biết gặp phải tên có vơ nghệ cao cường, Hội đồng Hoài vẫn c̣n giữ chút liêm sỉ của người có học vơ, chấp tay xá:

- Tôi xin chịu thua ông. Xin mời ông vào nhà để tôi tạ lỗi, và nhờ ông chỉ dạy thêm cho tôi.

- Vơ sư ấy vội vàng lên ngựa, miệng c̣n lẩm bẩm:

- Ai thèm dạy thứ phách lối như mày.

Một giai thoại khác cũng được dân chúng truyền tụng với sự khoái chí v́ đă làm mất mặt ông Hội đồng Hoài. Số là một ông cũng giỏi vơ, mai danh ẩn tích từ lâu, chỉ làm ruộng rẫy, tên là Ba Khoan, dân Mỏ Cày ai ai cũng nghe tiếng. Một người bạn của Ba Khoan, ở cách nhà của Hội đồng Hoài một cánh đồng, có tát đ́a, bắt được 2 con cua đinh, nhắn ông Ba Khoan xuống, tặng một con đem về nhậu chơi. Được tin đó, Ba Khoan xuống chơi và khi về có quải theo một con cua đinh ṭn ten, mục đích để bọn gia nô của ông Hội đồng Hoài thấy, đ̣i tịch thâu. Ba Khoan dùng một tàu dừa lớn, chặt làm đ̣n gánh để quải một đầu, tay vịn một đầu. Khi Ba Khoan đi ngang nhà ông Hội đồng Hoài, bọn gia nhân thấy, liền kêu lại và nói:

-Lâu nay ông tôi thèm cua đinh. Chú để con cua đinh này cho ông tôi nhậu chơi, được không?

-Cua đinh của tôi, tại sao phải để cho ông nhậu?

-Chú ở đâu, không biết ông tôi à?

-Tôi quê mùa, không biết?

Nghe tiếng căi cọ ngoài cửa, ông Hội đồng Hoài bước ra, tự tiện gỡ con cua đinh của Ba Khoan, mà không nói năng ǵ cả.

Bất thần, Ba Khoan dùng tàu dừa ấy, đánh bọn gia nô chạy tán loạn. Hội đồng Hoài bị một đá văng xuống mương, ướt như chuột lột. Xấu hổ, thầy tṛ ông Hội đồng Hoài bỏ vô nhà một nước, không nh́n lại. Theo lời dân chúng địa phương, từ đó ông Hội đồng Hoài bớt hống hách.

Ông Phủ Kiểng là một cự phú khác ở Giồng Luông, quận Mỏ Cày. Các con ông đều học tới nơi tới chốn. Nhiều người ra làm quan với chính phủ Pháp, và có một người khác làm bí thơ cho Hoàng đế Bảo Đại. Ông Phủ Kiểng là nhà giàu lớn, tiếng tăm khắp Nam Kỳ, ai ai cũng nghe danh. Dân chúng địa phương chỉ biết ông là “Phủ Kiểng” chớ ít ai biết tên thật của ông là Nguyễn Duy Hinh (1874-1945). Theo tài liệu do phủ Toàn quyền Đông Dương ở Hà Nội ấn hành năm 1943, do Tiến sĩ Sử học Vũ Ngự Chiêu cho mượn th́: “Ông Nguyễn Duy Hinh sinh năm 1874 tại làng Đại Điền, Mỏ Cày, Bến Tre. Lúc trẻ làm Biện lại (1893), rồi Phó thôn (1894), Hương thơ (1895), Hương Văn (1896-97), Biện tống (1898), Xă trưởng (1901-1902), Hương chánh (1903), Hương sư (1904), Bang biện (1904-1913), Cai tống (1913 - 1916). Ông được thăng Huyện hàm năm 1923, rồi Phủ hàm 1930 và Đốc phủ sứ năm 1939. Ngoài một số huy chương được Pháp ban tặng, ông Phủ Kiểng có một Bắc Đẩu Bội tinh. Năm 1942, ông Phủ Kiểng là người rất trung thành với chính phủ Pháp, được qua Pháp du lịch một lần.

Nguồn gốc giàu có của ông Phủ Kiểng theo lời thuật của thân mẫu nhà văn Xuân Vũ như sau:

Thuở hàn vi, cậu Nguyễn Duy Hinh sinh trong một gia đ́nh nghèo. Cha mẹ cậu làm lụng đầu tắt mặt tối nhưng không đủ ăn. Hàng ngày, cậu Hinh phải phụ cha mẹ trong việc ruộng rẫy. Ngoài ra, cậu c̣n làm mướn cho cho các gia đ́nh khá giả để kiếm thêm tiền giúp đỡ cha mẹ. Hồi trước, khi cho con đi ở đợ (làm mướn), cha mẹ được lănh tiền trước. Khi tới tuổi lấy vợ, cha mẹ cậu Hinh cất một nhà nhỏ cho vợ chồng ở riêng. Cũng như nhiều lực điền khác, ngoài công việc làm ruộng, cha cậu Hinh c̣n đặt ḷ, đặt trùm, cắm câu để kiếm ăn. Một hôm, cha cậu đặt ḷ (dụng cụ bắt cá) ở Cái Răng, có bắt được một con rắn hổ. Trong lúc lui cui bắt con rắn ra khỏi lờ, không may, cha cậu bị con rắn hổ mổ chết. Nhà nghèo quá, không có ḥm để tẩm liệm, nên người lối xóm tới phụ bó chiếu đem chôn. Đám ma chỉ có mấy người đưa đến huyệt. Đi được nửa đường, cái thây ma bó chiếu bị đứt dây rớt xuống ruộng. Thấy vậy, họ đào luôn cái huyệt rồi chôn tại đó. Đây là một điều ngoại lệ từ xưa tới nay rất kiêng cữ, nhứt là các gia đ́nh khá giả, không bao giờ làm như vậy. Đào huyệt xong phải chôn, chớ không được bỏ trống để đào cái khác. Nhưng gia đ́nh quá nghèo, không cần kiêng cử cho mất công. Không ngờ, đêm ấy trời mưa giông dữ dội. Sáng ra, người ta thấy chỗ cái mả mới chôn, đùn lên một g̣ mối lớn như cái núm mộ. Về sau theo một ông thầy địa lư Tàu, đây là ngôi mộ thiên táng, dành cho người phước đức. Ai có hài cốt cha mẹ táng vào đó con cái sẽ phát quan, giàu sang tột bực. Quả nhiên, từ đó bà mẹ ông Hinh giàu có nhờ làm ruộng trúng mùa liên tiếp. Ông Hinh mua thêm ruộng đất, phát tài, lên như diều gặp gió. Đồng thời ông được bổ làm Biện lại khi tuổi vừa 19. Khi đă giàu có, nhà ông Phủ Kiểng là nơi các Tham biện, Chủ tỉnh, Thống đốc, Hội đồng... tới lui, tiệc tùng liên miên.

Theo lời nhà văn Xuân Vũ, nhà ông Phủ Kiểng như dinh Tham biện (Tỉnh trưởng), c̣n khang trang hơn, cao 3 từng, nằm trên một khu đất rộng tới 6.000 m2, cạnh con đường cái. Quanh nhà có tường gạch kiên cố như bức thành. Trước sân nhà, có những cột đèn ốp đá cẩm thạch, cùng nhiều h́nh tượng và phù điêu đắp nổi. Tại tiền sảnh là nơi đăi tiệc tùng các quan khách từ Sài g̣n xuống hay các chủ tỉnh, chủ quận các tỉnh lân cận. Nhà cất trên một nền đúc cao tới cổ, cẩn đá da quy. Ngói lợp mua từ bên Tây chở về. Cột gỗ bằng cây căm xe, mua từ bên Miên, rồi đóng bè thả trôi theo sông Cửu Long chở về. Trên bè có cất nhà cḥi để bạn chèo ăn ngủ. Mỗi khi bè cây sắp đi ngang qua những hàng cột đáy, tức th́ bạn chèo trên bè đánh mơ hồi một, tức là báo động, để chủ kéo đáy lên, tránh vô bờ. Trong nhà bàn ghế bằng cẩm thạch Vân Nam, chén đă mua từ bên Tây hay đồ sứ của Trung Hoa. Cất nhà xong, ông rước thợ chạm từ miền Trung vào ăn ở luôn trong nhà mấy năm liền, để chạm trổ sa lông, trường kỷ, tủ thờ.

Cũng theo lời nhà văn Xuân Vũ, mấy đầu cột nhà ông Phủ Kiểng có dát vàng 2 tấc, sáng loáng. T́nh cờ tôi có gặp người bạn là giáo sư Nguyễn Quỳnh, dạy môn lịch sử kiến trúc và thẩm mỹ học tại Đại học Columbia, New York và San Antonio, có đọc đến đây và cắt nghĩa cho chúng tôi rơ thêm: Các đầu cội chạm trổ và dát vàng theo lối Ionic, Emprie... xuất hiện và thịnh hành ở Âu Châu vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Ông Kiểng có đi Tây mua ngói lợp nhà, đồ gia dụng, chắc ông bắt chước một trong các kiểu ấy, đầu cột dát vàng khi cất nhà. Trong thời kỳ Việt Minh ra lệnh tiêu thổ kháng chiến, phải dùng cốt ḿn mới phá sập, nhưng chỉ được một phần. Ông phủ Kiểng có cả thảy trên 10 người con, cả trai lẫn gái. Tất cả đều được cho ăn học cao. Nhiều người đỗ đạt, giữ địa vị lớn. Trong số mấy người con, người ta chỉ nghe danh các ông.

Con thứ ba, c̣n gọi là cậu Ba Oai, được cho qua Pháp du học, không đỗ đạt ǵ nhưng được tiếng là công tử ăn chơi, coi tiền như rác. Khi về nước, cậu Ba Oai có dẫn theo người vợ đầm. Vẫn theo tin đồn của người địa phương, khi về làm dâu nhà ông Phủ Kiểng, cô đầm ấy không ăn mắm kho được, và hàng ngày phải xắc chuối cho heo ăn. Chán nản trước cảnh sống của đại gia đ́nh như vậy cô vợ đầm của cậu Ba Oai xin về xứ. C̣n cậu Ba Oai, từ ngày du học trở về, thường gọi cha là “Me xừ Kiểng” mỗi câu nhắc đến ông như phong tục Tây phương. V́ lẽ đó, trong các cuộc hội hè đ́nh đám ở Mỏ Cày, nhiều người học chữ Nho, có chức phận trong làng, thường bàn tán với nhau:

- Ê? Có con đừng cho đi Tây học làm ǵ!

- Tại sao vậy? Một ông hỏi.

- Cho nó qua Tây du học, lúc về nhà nó kêu tên cha mỗi khi nói chuyện như cậu Ba Oai kêu ông Phủ Kiểng bằng “Me xừ Kiểng”. (Monsieur Kiểng)

Người con thứ sáu của ông Phủ Kiểng tên Nguyễn Duy Quang. Ông Quang sinh năm 1906 tại Đại Điền, được du học bên Pháp, tại trường Cao đẳng Thương Mại. Năm 1935, ông Quang về Huế làm Chánh văn pḥng cho Hoàng đế Bảo Đại. Ông Quang là người được Hoàng đế tin cậy, cho tháp tùng vua và Hoàng gia sang Pháp 1939. Lúc trở về Nguyễn Duy Quang được cử làm Bố chánh tỉnh Thanh Hoá. Cũng như cha, ông Quang rất thân Pháp và được Pháp tặng thưởng nhiều huy chương. Ông Quang c̣n hai người anh là Nguyễn Duy Trinh, Nguyễn Duy Tiên, cũng có chức phận, nhưng không tài liệu nào nói rơ.

Con thứ chín là thầy Cai Tâm, một mẫu người đặc biệt, được dân chúng rất kính trọng. Tuy sống trên nhung lụa, hấp thụ văn hoá Pháp, nhưng thầy Cai Tâm chỉ muốn làm một chức vụ tượng trưng: Cai tổng. So với tài học và quyền thế của gia đ́nh, nếu thầy Cai Tâm muốn làm Huyện hay Phủ cũng dễ như trở bàn tay. Tới lui ở công sở làng, hay dự những đám tiệc, thầy Cai Tâm thường nghe những lời x́ xầm, bàn tán, gièm pha về những việc làm của thân phụ, nên ông sẵn sàng nhận làm Cai tổng như một cử chỉ thay cha, gián tiếp nhận lỗi và làm dịu bớt những ḷi đồn xấu về cha của ḿnh. Có lẽ cây đắng sanh trái ngọt. Trọng nghĩa khinh tài thầy Cai Tâm tuy giàu nhưng có ḷng nhân, thích làm việc thiện. Ai có việc tang chế, túng thiếu, cứ đến tŕnh bày với thầy sẽ được giúp đỡ tận t́nh. Thầy Cai Tâm c̣n xuất tiền riêng để lập nhà bảo sanh, mở thêm trường học ở quận, để con cháu tá điền có chỗ ăn học.

Nhà văn Xuân Vũ đă viết về thầy Cai Tâm như sau:

“Tuy không theo đạo nào, nhưng cậu cúng đất cúng điền cho Thánh thất Cao Đài, cho nhà thờ Thiên Chúa và cho Tin Lành. Những công việc từ thiện đều được cậu hoan nghinh và giúp đỡ dễ dàng. Về tư cách của cậu cũng không có chỗ nào chê trách được. Cậu cưới vợ đàng hoàng. Không mèo chuột, vợ bé vợ mọn. Cậu xử kiện rất phân minh và không ăn hối lộ. Tiếng thanh liêm của thầy Cai Tâm bay khắp một vùng. Mấy vị hương chức lem nhem rất sợ thầy Cai Tâm. Năm 1944-1945, khi nghe tin nạn đói hoành hành ở Bắc Kỳ, thầy Cai Tâm đă tặng 1000 giạ lúa để chở ra ngoài Bắc cứu trợ. Thế nhưng khi Việt Minh cướp chính quyền, thầy Cai Tâm đứng đầu danh sách những người bị coi là Việt gian, bóc lột và bị kết án tử h́nh. Thanh niên Tiền phong đă đến bắt thầy Cai Tâm sau khi đă phá hoại ngôi nhà nền đúc của thầy. Họ trói tay thầy lôi ra sân banh, và hành quyết với bản án chỉ tóm tắt trong mấy chữ “hợp tác với giặc Pháp”.

Ông Phủ Kiểng c̣n có một con gái nữa, không nhớ tên, gả cho thầy Mười Nhẫn, tức Lê Quang Nhẫn, con trai ông Phủ Lê Quang Liêm. Ngoài ra, ông Phủ Kiểng c̣n làm sui với ông Hội đồng Bền, một cự phú khác cũng ở Gióng Miễu, Mỏ Cày.

Đất Mỏ Cày c̣n nổi tiếng với hai cha con ông Huyện Minh và Hội đồng Quá.

Ông Hội đồng Quá người tổng Minh Quái, quận Mỏ Cày, giàu có nhưng hay tường công tiếc việc với kẻ ăn người ở trong nhà, và cả dân làng. Ông Quá nổi tiếng khi góp lúa ruộng dùng cái giạ già (đơn vị đong lường, nhưng nhiều hơn 40 lít) và khi cho vay th́ dùng cái giạ non (kém hơn 40 lít). Ngoài ra, ông c̣n là người cho vay cắt cổ. Sự giàu có của ông là mồ hôi nước mắt của dân chúng, tá điền nghèo khổ bất hạnh đóng góp. Khi cho vay lúa, ông cho đong bằng cái giạ non, khi gạt mặt, c̣n hổng một lỗ trên mặt. Đến mùa góp lúa ruộng, ông đem theo cái giạ già thêm mấy lít, và gạt miệng vun chùn. Nhiều lần đi thâu lúa ruộng tại sân lúa tá điền, sau khi đong đủ lúa cho ông th́ người mướn ruộng chỉ c̣n... cầm cây chổi quét sân mà nước mắt tuôn ḍng. Làm ruộng được bao nhiêu đă đong hết cho ông v́ đă mượn nợ, trả tiền lời, tiền mướn ruộng, không c̣n một giạ để ăn, nhưng ông không động ḷng. Có một lần, một tá điền gạt lúa cộ về nhà đập xong, giẽ sạch, phơi khô rồi đong hết cho ông, nhưng cũng chưa đủ. Bà vợ ông Hội đồng Quá bèn hỏi tá điền:

- Mầy có mấy đứa con?

Tưởng bà nhân đức, hỏi gia cảnh để châm chế cho ḿnh, cho lại vài ba giạ để các con ăn đỡ đói, người tá điền lễ phép thưa:

- Bẩm bà tôi có 5 đứa!

Bà Hội đồng Quá nói:

- Biểu một đứa con của mày vào ngồi trong cái giạ, rồi gạt cho tao.

Tá điền khốn khổ nước mắt rưng rưng, không nói thêm một lời.

Tuy giàu có, nhưng vẫn tham lam, đó là tại bản tánh ích kỷ của một số tá điền chủ ở Nam Kỳ ngày trước. Nhà ông Hội đồng Quá lúc nào cũng có nuôi 5 con heo nái, khoảng một chục heo lứa và hàng mấy chục heo con. Tôi tớ hàng chục nhưng đầu tắt mặt tối làm không hết việc. Hễ ai muốn vay mượn, nhờ vả điều ǵ khi tới nhà ông Hội đồng Quá, trước tiên là phải làm việc nhà như tôi tớ. Đàn ông th́ quết chuối cho heo ăn. Có người phải giă trắng một hai cối gạo, rồi mới khép nép hỏi chuyện vay mượn. Đàn bà tới nhà phải xắc chuối cho heo ăn, ít nhứt cũng phải hai cây chuối. C̣n việc vay mượn được hay không là chuyện khác. Cả tổng Minh Quái hầu như ai cũng có dịp giă gạo hoặc xắc chuối trong nhà ông Hội đồng Quá. Ông hà khắc với tất cả mọi người không phân biệt thân sơ, già trẻ, đến nỗi thân phụ ông là ông Huyện Minh, cũng bất b́nh. Theo lời dân địa phương, trong tổng Minh Quái, có đến 1/4 đất ruộng thuộc về Hội đồng Quá.